Thứ Bảy, 8 tháng 10, 2011

THÁCH THỨC CỦA NHÂN LOẠI: PHÁT BIỂU VỀ LIÊN TÔN


Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Tuệ Uyển dịch
Chúng ta đã và đang thấy trong kỷ nguyên hiện đại những sự phát triển vượt bậc trong lĩnh vực phát triển vật chất. Như một kết quả, có một sự cải thiện đáng kể trong đời sống của con người. Tuy thế, cùng lúc ấy, chúng ta cũng cảnh giác rằng sự phát triển vật chất đơn thuần không thể trả lời cho tất cả những ước mơ của nhân loại. Hơn thế nữa, khi sự phát triển vật chất đạt đến một giai đoạn cao và cao hơn nữa, đôi khi chúng ta thấy rằng nó mang theo một sự phức tạp nào đấy, kể cả gia tăng những rắc rối và thử thách cho chúng ta.
Do bởi sự kiện này, tôi nghĩ rằng tất cả những truyền thống tôn giáo trên thế giới có khả năng để cống hiến đến lợi ích và cát tường của nhân loại, và các tôn giáo cũng duy trì sự liên hệ của họ trong thế giới hiện đại.
Tuy nhiên, vì nhiều tôn giáo quan trọng của thế giới tiến triển theo lịch sử của loài người một thời gian dài, tôi hoàn toàn chắc chắn rằng nhiều phương diện giáo huấn của tôn giáo và các truyền thống phản chiếu những nhu cầu và quan tâm trong những thời gian và các nền văn hóa khác nhau. Do vậy, tôi nghĩ thật quan trọng để có thể thực hiện một sự phân biệt giữa những gì tôi gọi là “cốt tủy” hay “căn bản” của giáo huấn các tôn giáo và những phương diện văn hóa của một truyền thống đặc thù. Những gì tôi muốn gọi là “căn bản” hay “cốt tủy” của các truyền thống tôn giáo là những thông điệp tôn giáo nền tảng, chẳng hạn nguyên tắc từ ái, bi mẫn, v.v…, là những điều luôn luôn duy trì sự liên hệ và tầm quan trọng của chúng, bất chấp thời gian hay hoàn cảnh. Nhưng khi thời gian thay đổi, phạm vi văn hóa thay đổi, và tôi nghĩ rằng thật quan trọng cho những tín đồ của các tôn giáo có thể thực hiện những sự thay đổi cần thiết có thể phản chiếu những quan tâm đặc thù về thời đại và văn hóa của họ.
Tôi nghĩ nhiệm vụ quan trọng nhất của bất cứ một hành giả của một tôn giáo nào là thẩm tra chính họ trong tâm hồn của chính họ và cố gắng để chuyển hóa thân thể, lời nói, và suy tư của họ và hành động phù hợp với giáo huấn và những nguyên tắc của truyền thống tôn giáo mà họ đang tôn thờ. Điều này rất quan trọng. Trái lại, nếu niểm tin hay sự thực hành tôn giáo của mỗi cá nhân chỉ duy trì trong cấp độ vận dụng về tri thức, chẳng hạn như quen thuộc với những giáo thuyết nào đấy mà không chuyển dịch chúng vào trong thái độ hay hạnh kiểm đạo đức của chúng ta, thế thì tôi nghĩ đấy là một lỗi lầm nghiêm trọng. Trong thực tế, nếu ai đấy sở hữu một kiến thức trí óc giáo điều của những truyền thống hay giáo lý tôn giáo, tuy thế tâm thức hay sự tương tục tinh thần của người ấy vẫn hoàn toàn không có ảnh hưởng gì với giáo lý, thế thì điều này có thể hầu như là phá hoại. Nó có thể đưa đến một hoàn cảnh trong ấy con người, do bởi có kiến thức về niềm tin tôn giáo, có thể sử dụng tôn giáo cho những mục tiêu khai thác hay lợi dụng. Thế nên, tôi nghĩ, như một hành giả, trách nhiệm trước nhất của chúng ta là quán xét chính chúng ta.
Hoàn cảnh thế giới ngày nay là hoàn toàn khác biệt với quá khứ. Vào thời xưa, những cộng đồng và xã hội loài người hiện hữu ít nhiều độc lập hơn với nhau. Dưới những hoàn cảnh như vậy, những ý tưởng của một tôn giáo duy nhất, một nền văn hóa đơn điệu khổng lồ, v.v… hợp lý và có một vị trí trong phạm vi văn hóa. Nhưng tình thế này bây giờ đã hoàn toàn thay đổi như một kết quả của những nhân tố đa dạng: dễ dàng thâm nhập giữa những quốc gia khác nhau, một cuộc cách mạng thông tin, đễ dàng chuyền vận, v.v… Thế nên, xã hội loài người có thể không còn hoạt động trong kiểu thức ấy nữa.
Chúng ta hãy lấy một thí dụ về thủ đô Anh Quốc. Luân Đôn là một thành phố đa văn hóa và đa tôn giáo. Do vậy, nếu chúng ta không hành xử một cách cẩn trọng và sử dụng trí thông minh của chúng ta, thì sẽ có thể có nguy cơ xung đột căn cứ trên sự khác biệt niềm tin tôn giáo và văn hóa. Vì thế, rất quan trọng để có một quan điểm suy nghĩ đến sự hiện hữu của những tôn giáo phức tạp, sự đa nguyên tôn giáo. Phương cách tốt nhất để đối diện với thử thách này là không chỉ nghiên cứu các truyền thống tôn giáo khác qua sách vở, mà quan trọng hơn là việc gặp gở với những người thuộc những truyền thống tôn giáo khác vì thế chúng ta có thể chia sẻ những kinh nghiệm của mình với họ và học hỏi từ những kinh nghiệm của họ. Qua những cuộc gặp gở cá nhân, chúng ta sẽ có thể thật sự đánh giá đúng giá trị của những truyền thống tôn giáo khác.
Từ một viễn kiến rộng rãi hơn, có những nền tảng mạnh mẽ rõ ràng cho việc đánh giá đúng đa nguyên trong tôn giáo và văn hóa, đặc biệt trong tôn giáo. Một sự thật trong loài người là có nhiều loại thiên hướng tinh thần, những sự hấp dẫn, các nhu cầu, v.v… Thế nên, càng có nhiều tôn giáo khác nhau hiện diện, khả năng của tôn giáo gặp gở các nhu cầu của những con người khác nhau càng lớn hơn.
Trong lịch sử của nhân loại, đã từng có những sự kiện rất thảm thương đã xảy ra do bởi tôn giáo. Ngay cả ngày nay, chúng ta thấy rằng những vụ xung đột sinh khởi nhân danh tôn giáo và cộng đồng loài người càng bị phân chia sâu xa hơn. Nếu chúng ta đáp ứng được thử thách này, thế thì tôi bảo đảm rằng chúng ta sẽ thấy rằng có đầy đủ những nền tảng mà trên ấy chúng ta có thể xây dựng sự hòa hiệp giữa những tôn giáo khác nhau và phát triển một sự tôn trọng chân thành đối với nhau.
Một thử thách quan trọng khác đối diện với loài người bây giờ là vấn đề bảo vệ môi trường. Trong thực tế, nhiều nhà môi trường nổi tiếng đã tuyên bố mong ước của họ được thấy những sáng kiến năng động từ những truyền thống tôn giáo khác nhau và đặc biệt là bởi những lĩnh tụ của các tôn giáo. Tôi nghĩ đây là một ước vọng rất có giá trị. Một cách cá nhân, tôi cảm thấy rằng nhiều vấn nạn môi trường thật sự xuất phát từ những khát vọng vô độ không thể ngăn cản của chúng ta, thiếu sự toại nguyện, và tham lam. Chính trong giáo huấn tín ngưỡng, chúng ta tìm thấy những chỉ dẫn phong phú có thể cho chúng ta khả năng kiểm soát sự thèm muốn và tham lam của chúng ta và chuyển hóa hữu hiệu thái độ và hạnh kiểm của chúng ta. Do vậy, tôi nghĩ các truyền thống tôn giáo không chỉ có năng lực mà cũng có trách nhiệm để thực hiện một sự đóng góp trong chiểu hướng này.
Một vấn đề khác mà tôi xem là rất quan trọng, và đấy là một trách nhiệm mà các truyền thống tôn giáo phải tự lãnh lấy, là đưa ra một mặt trận thống nhất chống lại chiến tranh và xung đột. Tôi biết rằng trong lịch sử loài người đã từng có một ít trường hợp, qua chiến tranh, tự do chiến thắng và những mục tiêu nào đấy đã được đạt đến. Nhưng cá nhân tôi tin rằng chiến tranh không bao giờ đưa đến một giải pháp tối hậu cho một vấn đề. Thế nên, tôi nghĩ điều quan trọng cho tất cả mọi truyền thống tôn giáo hãy nhất tề đứng lên và bày tỏ ý kiến đối kháng của họ đến chính ý tưởng về chiến tranh. Nhưng việc bày tỏ ý kiến đối kháng chiến tranh mà thôi thì chưa đủ. Chúng ta phải làm việc gì đó để đem đến việc chấm dứt chiến tranh và xung đột, và một trong những vấn đề ấy là chúng ta phải nghĩ một cách nghiêm túc về vấn đề giải trừ quân bị. Tôi biết rằng nhân tố động cơ tạo ra nhu cầu cho vũ khí là cảm xúc con người – thù oán và sân hận. Nhưng không có cách nào mà chúng ta có thể hoàn toàn loại trừ sân hận và thù oán khỏi tâm thức của loài người. Chúng ta có thể giảm thiểu sức công phá của chúng một cách rõ rệt và làm dịu chúng đi, nhưng không thể loại trừ chúng một cách hoàn toàn. Điều ấy có nghĩa là chúng ta phải thực hiện những nổ lực để đạt đến sự giải trử vũ khí.
Một thử thách khác mà chúng ta đối diện là vấn đề dân số. Tôi biết rằng từ quan điểm của tất cả mọi truyền thống tôn giáo, đời sống, sự sống của con người nói riêng là quan trọng một cách đặc biệt. Theo nhận thức của loài người cá thể, càng nhiều người càng tốt, bởi vì sau đó chúng ta có cơ hội cho nhiều đời sống con người được hình thành. Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn vào vấn đề này từ viễn tượng toàn cầu, thế thì tôi nghĩ rằng có một nhu cầu rõ ràng cho tất cả mọi truyền thống tôn giáo đặt vấn đề dân số một suy tư vô cùng nghiêm trọng, bởi vì tài nguyên thế giới thì giới hạn. Chỉ có một mức độ nào đấy mà tài nguyên thế giới có thể cung ứng cho nhân loại trên hành tinh này.

Thứ Sáu, 7 tháng 10, 2011

CHỊ PHỤ NỮ SAMARIE, NGƯỜI TIÊN PHONG CỦA SỨ MỆNH TRUYỀN GIÁO TRONG TÂN ƯỚC



Priscille Djomhoué
Nhà chú giải Kinh Thánh

Khi đọc Tin Mừng thánh Gioan trong nhãn quan truyền giáo, ta phải thú nhận rằng Gioan là người nữ quyền nhất trong các tác giả Tin Mừng. Trái với các Tin Mừng nhất lãm, bản văn của Thánh Gioan có một cấu trúc đặc biệt. Trong khi ở Matthêu (10, 1-15), Marcô (6, 7-13) và Luca (9, 1-9), Chúa Giêsu ra lệnh đi truyền giáo đầu tiên cho các đấng đàn ông thì Đức Giêsu của Gioan lại dành ưu tiên cho một phụ nữ.
Thật vậy, khởi đầu chương 3 của Tin Mừng Thánh Gioan cho thấy không có một dấu hiệu nào về sự hiện diện của Tin Mừng tại Samarie: tôn giáo của người Samarie, dầu bị cho là thứ tôn giáo lai tạp[1], cũng đã tôn thờ Chúa và lấy Ngũ Kinh làm nền tảng cho niềm tin của họ, như lời tuyên bố của Chúa Giêsu với người phụ nữ Samarie (Ga 4, 23). Trên hành trình đi đến Galilê, cuộc dừng chân của Chúa Giêsu tại Samarie chỉ là câu chuyện thoáng qua. Khi các môn đệ đi vào thành phố tìm mua lương thực (Ga 4, 8), Chúa Giêsu đã kêu gọi một môn đệ cấp hai, một người phụ nữ: đây là một môn đệ không như những người khác vì cuộc gặp gỡ của chị với Chúa Giêsu đã cho chị một tầm quy mô mà những người được kêu gọi trước kia chưa nhận được. Thật vậy, trong thời gian ngắn ngủi của cuộc dừng chân, chị đã được kêu gọi đồng thời cũng được sai đi.
    Mục tiêu của bài này là chứng minh rằng cấu trúc của Tin Mừng Thánh Gioan đặt một người phụ nữ làm người đầu tiên được sai đi không phải là chuyện tình cờ: trong chừng mực nào đó, chủ nghĩa nữ quyền của Gioan chẳng phải là có ý muốn chứng minh thiên hướng tự nguyện của phụ nữ muốn làm việc trong “cánh đồng của Chúa” đó sao?
Suy tư của chúng ta phân ra làm ba giai đoạn:
- Trước hết, chúng ta sẽ chứng minh rằng, theo sơ đồ cấu trúc của Tin Mừng Gioan, đường đi của người phụ nữ Samarie cũng giống như con đường của các môn đệ và sự khác nhau nằm ở mức độ thời gian giữa sự huấn luyện và sự sai đi đầu tiên: giới hạn thời gian huấn luyện nơi người phụ nữ Samarie rất có ý nghĩa.
- Tiếp đến, rất quan trọng khi dừng lại trên con người của nhà truyền giáo hoặc người được sai đi khi xem xét mẫu gương của người phụ nữ Samarie.
- Cuối cùng, chúng ta đưa ra những khó khăn công cuộc truyền giáo: chúng ta đặt kinh nghiệm của người phụ nữ Samarie trong tương quan với lời tuyên bố của Chúa Giêsu trong Mt 13, 57; Lc 4, 24 và Mc 6, 4: “Một ngôn sứ chỉ bị khinh bỉ nơi quê hương và nơi nhà mình”.
Kêu gọi và sai đi truyền giáo
Ga 4, 1-42 là một trình thuật được xây dựng cách bài bản: bản văn gồm hai phần. Một là phần kể chuyện gồm có dẫn nhập (câu 1-6), các môn đệ từ thành phố trở về và tóm tắt hoạt động truyền giáo của người phụ nữ (câu 27-30), hệ quả và chứng từ công cuộc truyền giáo của người phụ nữ (câu 39-41); phần thứ hai là hai cuộc đối thoại: cuộc đối thoại thứ nhất xảy ra giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ (câu 7-26) và cuộc đối thoại thứ hai xảy ra giữa Chúa Giêsu và các môn đệ (câu 31-38). Bản văn kết thúc ở lời tuyên xưng đức tin của những người Samarie ở câu 42.
Xét về số lượng, các cuộc đối thoại là phần quan trọng nhất của trình thuật: 27 câu trên 42 câu, với 19 câu dành riêng cho cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ trong khi cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với các môn đệ chỉ có 8 câu. Chúng ta không có ý nghiên cứu tất cả mọi chi tiết trong đoạn văn phong phú này, chỉ chú trọng đến con đường truyền giáo của người phụ nữ.
Cuộc chuyện trò của Chúa Giêsu với chị có thể chia làm hai phần: phần thứ nhất dành cho các lý luận nhằm thuyết phục lòng tin của người phụ nữ và kết quả là sự hoán đổi vai trò: người phụ nữ là người cho nước trở thành người xin nước (câu 7 - 15). Phần thứ hai là việc sai đi truyền giáo và lời tuyên xưng của người phụ nữ.
 Kêu gọi
Phần thứ nhất của cuộc đối thoại với người phụ nữ được xem như lời kêu gọi. Theo thánh Gioan, Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ đầu tiên (Ga 1, 35 - 51) bằng hai cách: 1/ người môn đệ đi theo Chúa Giêsu sau khi nghe lời giảng huấn hoặc nhờ chứng từ của một người thứ ba: đó là trường hợp của hai môn đệ đầu tiên là môn đồ của Gioan (Ga 1, 36b – 37), trường hợp của Simon được Anrê kêu gọi (câu 41), và của Nathanael được Philipphê kêu gọi (câu 45-46); 2/ Chính Chúa Giêsu đi bước trước: đó là trường hợp của Philipphê (câu 43). Trường hợp người phụ nữ Samarie được kêu gọi cũng giống như trường hợp của Philipphê, nghĩa là chính Chúa Giêsu đi bước trước đến với chị. Nhưng trái hẳn với sự kêu gọi của Philipphê dường như rất chóng vánh – nếu căn cứ theo trình thuật (Ga 1, 43) – tiến trình kêu gọi chị phụ nữ có vẻ dài hơn. Một cuộc đối thoại như thế không dễ gì xảy ra vì địa vị xa cách giữa Chúa Giêsu với người phụ nữ. Nói cách khác, dưới cái nhìn con người, cả hai chẳng có tương quan gì cả: trên bình diện sắc tộc, chị là người Samarie còn Chúa Giêsu là người Do Thái[2].
Trên bình diện tôn giáo, người Do Thái giáo giữ kẽ với dân ngoại giáo vì luật tinh sạch nghiêm cấm mọi sự tiếp cận. Trên bình diện xã hội, không có chuyện gặp gỡ giữa một người đàn ông với một phụ nữ, nhất là một phụ nữ xa lạ: “Ông là người Do Thái mà lại xin tôi, một phụ nữ Samarie, nước uống sao?” (4, 9a). Câu trả lời của người phụ nữ đối với lời tiếp cận của Chúa Giêsu (“Xin chị cho tôi chút nước uống”, câu 7b) chứng tỏ rằng Chúa Giêsu đã vượt qua cấm cản tôn giáo, nghi thức, xã hội ngăn cách giữa hai cộng đồng[3]. Tình huống khó khăn này đòi hỏi phải cư xử khéo léo, bởi vì cần phải làm cho chị phụ nữ xoá bỏ định kiến có sẵn, phá vỡ những điều cấm kỵ dưới nhiều hình thức đã trói buộc cuộc đời chị. Chúa Giêsu phải tìm lời để tạo niềm tin, rồi đến thuyết phục kèm theo những dấu hiệu. Ở đây không cần nói đến nội dung chi tiết các phương tiện mà Chúa Giêsu sử dụng, điều quan trọng là nói đến kết quả của tiến trình. Lời tuyên bố của chị phụ nữ rất có ý nghĩa: “Thưa Ngài, xin Ngài cho tôi thứ nước đó để tôi không còn khát nữa và tôi không cần đến đây để kín nước nữa” (câu 15): cuộc đối thoại đã được kết nối và tình hình diễn tiến tốt đẹp. Cơn khát nước đã chuyển sang cơn khát Thiên Chúa, từ nước giếng là ân huệ của Giacóp đến nước hằng sống là ân huệ của Đức Giêsu[4]. Thoạt đầu, chính Chúa Giêsu ở trong tình trạng thiếu thốn, xin được trợ giúp, nhưng hiện giờ chính người phụ nữ lại là người thiếu thốn cần phải được lấp đầy.
Thật thích hợp khi đặt ra vài câu hỏi: làm sao mà từ cơn khát nước giếng Giacóp chuyển sang cơn khát nước hằng sống? Giải thích thế nào về sự lật ngược tình trạng từ người xin trở thành người ban phát? Như P. Mourlon Beernaert nhận xét, bản văn có tính biểu trưng cao:
Bản văn nói cách biểu trưng về sự bất trung và sự lai tạp tôn giáo của miền Samarie mà ngôn sứ Hôsê là một nhân chứng. Nghệ thuật của Gioan là dùng một tình trạng có thật, tình trạng của người phụ nữ Samarie, để biểu trưng cho một chiều kích thâm sâu hơn, tình trạng của miền đất Samarie không có chồng, có nghĩa là không nhận biết một Thiên Chúa duy nhất[5].
Vấn đề của bản văn này dường như là vấn đề của một dân tộc cần được cứu vớt, một dân tộc phải hoán cải, phải chuyển từ việc thờ cúng ngẫu tượng sang thờ lạy Thiên Chúa duy nhất. Thật vậy, chúng ta nghĩ rằng Chúa Giêsu cần một chiếc cầu nối để gieo mầm sứ điệp cứu rỗi cho thành phố này và chiếc cầu là chị phụ nữ này, người mà sau khi nhận lãnh sứ điệp đã có nhiệm vụ loan truyền cho những người khác (câu 16).
Sai đi truyền giáo và huấn luyện
Một phần phụ mà chúng tôi cho là một cuộc sai đi truyền giáo đã bao hàm một điều gì đó lớn lao hơn là một cuộc sai đi: thật vậy, ta có thể thấy lẫn lộn đó là một cuộc sai đi đồng thời cũng là sự huấn luyện. Ở đây, thật khó nói cách rõ ràng rằng việc sai đi truyền giáo có trước hoặc có sau khi huấn luyện bởi vì phần mà chúng tôi đặt tên là “kêu gọi” cũng đã bao gồm một sự khai tâm nào đó, một sự khai tâm dẫn đến sự hiểu biết và phân biệt sự khác nhau giữa hai loại nước. Trong phần thứ hai của cuộc đối thoại, sau lời tuyên bố sai đi truyền giáo, bản văn được trình bày như là một cuộc huấn luyện, kết thúc bằng lời tự xưng của Đức Giêsu đồng hoá mình với Đấng Cứu Thế và sự trở về của các môn đệ. Như vậy, đoạn này bao gồm cả việc sai đi lẫn sự huấn luyện. Chúa Giêsu sai người phụ nữ đi gọi “các ông chồng của mình”, nhưng đồng thời, theo cái nhìn thần học thì chị cũng nhận được một sứ điệp từ nay đối chọi với những gì mà đức tin của người Samarie đã từng hiểu: sự chuyển đổi nội tại từ nơi thờ cúng trên núi Garizim đến việc thờ lạy trong Thánh Thần, và việc khám phá ra rằng Đấng Cứu Thế đã đến.
Sai đi truyền giáo
Việc sai đi truyền giáo được diễn tả cách rõ ràng trong câu 16: “Hãy đi đi, hãy gọi chồng chị rồi trở lại đây!”. France Quéré dùng từ “đuổi” ở đây: “Đức Kitô đã đuổi chị đi” vì cho rằng đây là một từ rất quen thuộc với người đàn bà như chị, trong khi ở đây là động từ “đi” ở thể sai khiến (impératif): “Hãy đi đi!”, nghĩa là để chị được tự do, giải phóng chị để chị có thể quay trở lại[6]. Chúng tôi nghĩ rằng từ “đuổi” của France Quéré không đúng với thực tại của hiện tình: thật vậy, đuổi là cho rút lui đi cho khuất mắt với nghĩa mạnh của từ ngữ, có điều gì đó gây phiền hà, bối rối. Trong khi đó vấn đề ở đây là một lệnh truyền, ta thấy ý nghĩa này trong thì (temps) và thể cách (mode) của từ được sử dụng, chính xác là thể sai khiến hành động (impératif actif) ở thì hiện tại (présent). Sai khiến là một thể cách được dùng khi người có quyền muốn ra lệnh hoặc chỉ bảo: nó đòi hỏi vô điều kiện sự hiện diện của người lãnh nhận lệnh truyền. Sai ai đi làm nhiệm vụ gì thì rõ ràng là người sai đi chờ đợi người được sai đi trở về để báo cáo công việc, đây chính là ý nghĩa của câu nói tiếp theo của Chúa Giêsu “và hãy trở lại đây”.
Vậy đâu là nhiệm vụ truyền giáo của người phụ nữ Samarie đối với dân tộc mình? Lệnh truyền hoặc nội dung sai đi đã rõ ràng: phonèson hoặc “hãy gọi”. Động từ “hãy gọi” được dùng ở cấu trúc trực tiếp: “hãy gọi chồng chị”. Ý nghĩa ở đây là chính người phụ nữ được sai đi, chị không cần một người trung gian nữa để hoàn thành nhiệm vụ được giao phó: chính chị phải trực tiếp gặp gỡ “chồng mình”. Thế mà Chúa Giêsu đã biết một điều còn quan trọng hơn thế nhiều: chị phụ nữ này không thể đưa (một ông) chồng đến được vì chị đã có năm chồng và hiện đang ở với người thứ sáu: “Chị có lý khi nói: tôi không có chồng. Vì chị đã có năm đời chồng rồi và người đang sống với chị hiện giờ cũng không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng” (câu 19). Người phụ nữ này đại diện cho sự lai tạp tôn giáo của miền Samarie mà các ngôn sứ trong sách Hôsê đã nói đến. Theo France Quéré, con số 5 có lẽ ám chỉ đến các thần ngoại giáo ở Samarie. Đây cũng là quan điểm của nhiều nhà chú giải.
Nhưng có nhiều lý luận khác nhau không đồng tình với kiểu đọc ẩn dụ này vì trong sách 2 Các Vua 17, 24 thì (ở Samarie) có đến 7 vị thần chứ không phải 5. Theo Charles L’Éplattenier[7] thì cũng không chắc rằng người Samarie là những người đa thần. Vậy thì cách nói năm người chồng nên hiểu theo nghĩa mặt chữ. Nếu có ẩn dụ gì cần phải làm sáng tỏ ở đây thì đó chính là từ andra của câu 6 được dịch là “chồng”. Ẩn chứa sau từ này là một nhóm người: thật vậy, khi Chúa Giêsu truyền lệnh: “Hãy đi, hãy gọi chồng chị rồi quay trở lại đây” (câu 16b), câu này tương hợp với câu 28 nói rằng chị đã để vò nước lại và đi vào thành, nhưng đồng thời cũng có liên hệ với câu 40 nói rằng để đáp ứng với lệnh hãy đi, hãy gọi và trở lại đây thì chị đã trở lại với nhiều người: đó là những người xứ Samarie. Sứ mệnh mà Chúa Giêsu giao phó cho người phụ nữ này đã hướng về một tập thể người.
Huấn luyện
Cần phải lưu ý rằng, khi đối mặt với lệnh truyền của Chúa Giêsu sai người phụ nữ Samarie đi gọi chồng mình, chị này không đi ngay mà nán lại để đối thoại. Một cuộc đối thoại mang vẻ đặc biệt: một sự vén màn phô bày trọn đời sống của người phụ nữ này, dẫn đưa đến sự nhận biết Chúa Giêsu như là một ngôn sứ và cuối cùng là một hướng dẫn về phụng tự: “Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Thiên Chúa Cha không phải trên núi này hay tại Giêrusalem […]. Những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và chân lý” (câu 21b và 23b). Câu trích này chẳng phải là đã hàm chứa lời loan báo về Đền Thờ Giêrusalem bị phá huỷ mà Matthêu đã nói cũng như hệ quả sau đó của việc phụng tự trong Đền Thờ sao[8]?
Đây là vấn đề lập trình thần học cho người phụ nữ. Như Charles L’Éplattenier suy nghĩ, người phụ nữ Samarie nhận biết Chúa Giêsu như một người của Thiên Chúa thì cũng nhận biết rằng người này có thể phân xử một tranh tụng đã có từ lâu. Không phải chị không biết đến sự đối kháng và tranh chấp các nơi thờ tự là mối xung đột lớn giữa người Do Thái và người Samarie: Đền Thờ Giêrusalem đối trọng với núi Garizim, đất thánh của đồng bào chị. Khi không phân xử thắng thua giữa những người ủng hộ Đền Thờ và những người ủng hộ núi Garizim, Chúa Giêsu đã mang đến một điều mới mẻ: hai truyền thống này phải biến mất để nhường chỗ cho một cách thể hiện đức tin mới[9]. Đó là một trong những sứ điệp mà chị phải mang đến cho đồng bào của chị, sứ điệp cải cách tôn giáo mà Chúa Giêsu mang đến để chị loan báo. Đó chẳng phải là nội dung huấn luyện tóm tắt mà chị nhận được trong cuộc gặp gỡ ngắn ngủi mà các môn đệ trong Tin Mừng nhất lãm phải mất nhiều tháng trời mới nhận được sao?
Thời gian huấn luyện cho chị phụ nữ Samarie chỉ là thời gian ngắn ngủi của cuộc dừng chân: tuy ngắn ngủi nhưng xúc tích và hoàn hảo: bấy nhiêu đó đã đủ để hoàn tất một chương trình mà các đấng môn đệ nam nhi chưa làm được trong một thời gian dài hơn: xoá bỏ những cấm kỵ (tabou) và mê tín. Trong Công Vụ Tông Đồ, trình thuật về cuộc gặp gỡ giữa Phêrô với ông Cornêliô chẳng phải là bằng chứng cho thấy rằng sau khi Chúa Giêsu ra đi thì Phêrô vẫn chưa hiểu ra rằng Tin Mừng phải dỡ bỏ mọi hàng rào bộ tộc sao? Công Đồng Giêrusalem chẳng phải là dấu hiệu chứng tỏ rằng người phụ nữ Samarie, qua sự tiếp cận bạo gan với Chúa Giêsu, chị đã đi trước một vài môn đệ đó sao?
Nhà truyền giáo nam hay nữ: sự tuyển chọn theo chất lượng?
Câu chuyện về người phụ nữ dẫn đưa chúng ta đến việc đặt vấn nạn về chính con người được sai đi. Đâu là điều kiện phải có để thấy mình xứng đáng? Người được sai đi, đó là người cần ân sủng của Thiên Chúa. Như ta thấy dưới đây, tất cả đều đặt Chúa Giêsu đối nghịch với người phụ nữ này:
Bộ tộc và tôn giáo của chị. Những người Samarie là hậu duệ của hai nhóm người: ở phía Bắc là nhóm còn lại của người Israel không bị lưu đày vào năm 772 trước Chúa Giêsu Kitô, và ở miền Nam là những kiều dân ngoại quốc đến từ Babylone (xem 2 V 17, 24 tt). Đã có cuộc đối đầu về thần học bởi vì người Samarie từ chối thờ phượng ở Giêrusalem. Tình trạng này càng nghiêm trọng hơn khi vì sau thời Lưu Đày ở Babylone về, người Samarie chống đối việc xây dựng lại Giêrusalem, lại còn giúp người Syrie trong cuộc chiến tranh của họ chống người Do Thái. Do vậy, trong nghi lễ, những người Samarie bị xem như là ô uế và phụ nữ Samarie lại càng ô uế gấp bội[10].
Hạng người và địa vị của chị
Người Do Thái được quyền có nhiều nhất là ba cuộc hôn nhân, những ai đi đến cuộc hôn nhân thứ tư được xem như bất bình thường[11]. Nếu luật này được áp dụng cho người Samarie, thì ta có thể hiểu rằng với lời nói trắng ra rằng chị phụ nữ đã có 5 người chồng, Đức Giêsu có ý nói lên cuộc sống bất thường của chị. Đó là một người phụ nữ bị khinh bỉ. Mọi người trong thành phố đều biết chị. “Nhưng hôm nay sự ô nhục của chị trùng hợp với vinh quang Thiên Chúa”[12]. Chúng tôi nghĩ rằng Thiên Chúa không chọn lựa những người hoàn hảo vì những người này có nguy cơ không hoàn thành trách nhiệm trong một lãnh vực mà họ chẳng có kinh nghiệm. Người được sai đi, đó là người xấu dưới mắt nhân loại nhưng là người mà Thiên Chúa muốn thu phục để cứu vớt người khác. Qua trình thuật này, người được sai đi của Chúa Giêsu là người biết mình đáng thương hại, biết mình cần ân sủng của Chúa, và là người có thể nói như chị phụ nữ Samarie: “Thưa Ngài, xin cho tôi nước đó để tôi không còn khát nữa!”. Sự tuyển chọn không gắn liền với công trạng nào đó nhưng với ân sủng của Chúa. Đó là điều mà B. Fankasa khẳng định:
Sứ mệnh mà Thiên Chúa giao cho con người gắn liền với tính mỏng dòn của con người. Tính nhạy cảm này đặt tội lỗi của con người ở ngay trung tâm của sứ mệnh chứ không phải tính háo thắng nào đó. Điều này cho phép khám phá ra tầm quan trọng của thập giá và tìm thấy trong Chúa Giêsu lý do duy nhất để hoàn thành sứ mệnh … Sự yếu đuối trong sứ mệnh truyền giáo là lý do quan trọng để “chấp nhận cách chữa trị bằng lòng khiêm tốn dành cho những tật bệnh của hoạt động truyền giáo ở bất cứ thời đại nào[13]!”. Sự yếu đuối trong sứ mệnh truyền giáo là con đường đã được chỉ định để khám phá ra Đức Giêsu Kitô như là tiêu chuẩn tối thượng cho sứ mệnh truyền giáo[14]. 
Những khó khăn trong công cuộc truyền giáo
Những khó khăn trong sứ mệnh truyền giáo của người phụ nữ Samarie được diễn tả qua cái nhìn của các tông đồ về hiện trạng và qua thái độ của những người đương thời. Ngoài những chướng ngại về thể chất khiến chị khó đi đây đi đó trong khắp thành phố vì mệt nhọc về thể lý, chị còn phải chịu đựng biết bao hệ quả tâm lý: cái nhìn khinh bỉ của người này, sự chế nhạo của người kia.

Cái nhìn và suy nghĩa của các môn đệ
Chúng ta hãy xem lại thái độ của các môn đệ. Họ được trình bày dưới hai dạng: họ có một cá tính thụ động, cá tính của những người dễ bảo và vâng lời. Họ đi vào thành phố theo lời sai của Thầy mình để mua lương thực (câu 8). Đó là khuôn mặt mà họ thích phô bày cho Thầy mình biết rằng họ là những môn đệ dễ mến và rất quan tâm đến Thầy: “Lạy Thầy, xin Thầy hãy ăn” (câu 31b). Thế nhưng khuôn mặt này có một cá tính ẩn dấu mà họ không muốn cho Thầy biết. Chính tác giả Tin Mừng là người tường thuật thông thái đã nói điều ấy cho chúng ta biết: họ “ngạc nhiên vì thấy Người nói chuyện với một phụ nữ” (câu 27). Do nền văn hoá và tôn giáo, họ biết rằng không được nói chuyện với một phụ nữ.
Để hiểu rõ suy nghĩ của các môn đệ về người phụ nữ Samarie, ta hãy tham khảo giải thích của C. K. Barrett về tư tưởng của các thầy Rabbi về vấn đề giao thiệp với phụ nữ: các người có thẩm quyền của Do Thái giáo khuyên đừng nên nói chuyện nhiều với phụ nữ, ngay cả trong khuôn khổ tương quan vợ chồng. Nếu đã không nên quá gần gũi với ngay cả vợ mình như thế thì lý do lại càng mạnh hơn khi nói chuyện với vợ người khác, và tệ hại nhất là nói chuyện với người không quen biết! Nói chuyện với phụ nữ là rước lấy bất hạnh cho mình. Những ai dùng thời gian với phụ nữ thì chểnh mãng việc học hỏi Lề Luật và do đó đáng sa xuống Hoả Ngục[15]. Bây giờ chúng ta có thể hiểu được điều gì đã xảy ra trong đầu của các môn đệ, và nhất là hình ảnh nào mà họ có về người phụ nữ Samarie.
Ở đây, sự khó khăn của người phụ nữ được sai đi này nằm ở cái nhìn của các môn đệ. Đối với họ, Chúa Giêsu không nên để cho người phụ nữ ngoại bang này đến gần, chị không đáng hưởng ân sủng mà chính họ nhận được từ Thầy mình. Người phụ nữ Samarie phải vượt qua cái nhìn của các môn đệ coi thường chị và còn nghĩ rằng chị không thể cũng không xứng đáng mang một sứ mệnh như thế. 
   Sự vô ơn của những người Samarie
Bản văn hai lần nhắc đến việc chị phụ nữ đi về phía đám đông có nhiều người và do đó họ tuôn đến với Chúa Giêsu (câu 28b và 39). Từ anthropoi được dùng ở câu 28b chỉ con người nói chung, gồm cả đàn ông, đàn bà và trẻ em. Hành động của chị phụ nữ đã thực sự mang lại hiệu quả: “Họ ra khỏi thành và đến gặp Ngài” (câu 30).
Bản văn kết thúc với một đám đông người tụ họp lại gồm tất cả các nhân vật trong trình thuật: Đức Giêsu, các môn đệ, những người Samarie và chị phụ nữ. Cung giọng của trình thuật cũng đã hạ xuống, không còn là cuộc đối thoại nảy lửa giữa Chúa Giêsu và chị phụ nữ Samarie hoặc các môn đệ mà là một thứ tĩnh lặng nào đó: “Dân Samarie xin Người ở lại với họ, và Người ở lại với họ hai ngày” (câu 40). Đây cũng là thời khắc người dân Samarie làm bản tổng kết. Họ vui mừng được gặp Đức Kitô, nhưng trình thuật kết thúc với một giai điệu buồn. Họ nói với chị phụ nữ: “Không còn phải chỉ nhờ chị kể mà chúng tôi tin”. Những lời này đã xem thường chị phụ nữ, đó là thái độ vô ơn của những người mà chị đã chinh phục, những người mà chị đã làm cho thay đổi cả về không gian địa lý lẫn về tinh thần, những người mà nhờ sự môi giới của chị đã tìm thấy suối nguồn hạnh phúc; họ đã gặp thấy Đấng Cứu Thế: “Đích thực Ngài là Đấng Cứu Thế!”. Cư dân của xứ Samarie đã thô bạo đẩy lùi chị phụ nữ Samarie ra xa thế nhưng họ không phải là những người độc ác duy nhất hay những người vô ơn duy nhất[16].
Sự vô ơn mà chị phụ nữ Samarie gặp phải là số phận của các sứ giả Đức Kitô, những người mà sau khi hoàn thành sứ mệnh của mình thì bị gọi là “tôi tớ vô dụng”. Matthêu đã nói về vấn đề này: “Một ngôn sứ chỉ bị khinh bỉ nơi quê hương và nhà mình” (Mt 13, 57).
Trong cuộc độc thoại dài (Ga 4, 34-38), Đức Giêsu nói rằng có người gieo kẻ gặt. Rõ ràng rằng người gieo phải vất vả vì công việc nặng nhọc còn kẻ gặt thì vui mừng khi gặt hái. Vẫn có sự khó nhọc, chịu đựng vì công việc, nhưng người gieo vẫn có sự vui mừng: “Ai gặt thì lãnh tiền công và thu hoa lợi để được sống muôn đời, và như thế, cả người gieo lẫn kẻ gặt đều hớn hở mừng vui” (câu 36).

chuyển ngữ
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính



[1] Xem Ch. L’Éplattenier, L’Évangile de Jean, Genève, Labor et Fides, 1993, tr. 99.
[2] Được vua Omri của Israel thành lập, miền Samarie bị người Assyrien chiếm đóng và những người không phải là Do Thái đến định cư. Vì thế, điều này mở đường cho ngoại giáo đi vào và là điểm gây chia rẻ giữa người Do Thái và người Samarie (1 V 16, 24-25). Để biết thêm, xin đọc A, Parrot, “Samarie, capital du Royaume d’Israel”, Cahier d’archéologie biblique, số 7, Neuchâtel, Delachaux et Niestlé, 1995.
[3] P. Mourlon Beernaert, Marie, Marthe et les autres: les visages féminins de l’Évangile, Bruxelles, Lumen Vitae, coll. “Écritures” 5, 1992, tr. 149
[4] Sđd. tr. 148
[5] Sđd. tr. 151
[6] France Quéré, Les femmes de l’Évangile, Paris, Éd. du Seuil, 1982, tr. 115
[7] Charles L’Éplattenier, L’Évangile de Jean, sđd. tr. 101. C.K. Barrett, The Gospel According to St John: An Introduction With Commentary and Notes on the Greek Text, Londres, SPCK, 1962, tr. 197
[8] Xem chủ đề màn trong Đền Thờ bị xé làm đôi trong trình thuật về Cuộc Khổ Nạn: nhiều nhà chú giải cho rằng qua bức mà bị xé này, Thiên Chúa không còn bị giam hãm trong nơi Cung Thánh nữa và như thế, phụng tự của Đền Thờ không còn giá trị.
[9] Charles L’Éplattenier, L’Évangile de Jean, sđd. tr. 101.
[10] R. E. Brown, The Gospel According to Saint John, Geffrey Chapman Publishers, 1971, tr. 170.
[11] Sđd. tr. 171.
[12] Sđd.
[13] P. Poucouta, được trích dẫn bởi B. Fankasa Biniama, Les Missions des individus johanniques: le cas de Marie de Magdala en Jn 20, Bern, Peter Lang, 2004, tr. 158-159.
[14] B. Fankasa Biniama, Les Missions des individus johanniqué: le cas de Marie de Magdala en Jn 20, op. cit., tr. 158-159
[15] C. K. Barrett, The Gospel according St John, op. cit. tr. 200.
[16] France Quéré, khi nói về các nhà chú giải và dịch thuật của câu 39, đã nhắc đến một bản văn cổ thay thế từ “số đông” (nombreux) bằng “nhiều” (plusieurs), để hạn chế ảnh hưởng của chị phụ nữ bị cho là không đàng hoàng này. Còn các nhà chú giải, người thì cho là chị phụ nữ Samarie này là một nhân chứng của Tin Mừng, người khác ghi chú rằng: “Chị chỉ là một người huênh hoang thích làm nổi”. (Như chú giải của C.F. Molla, Le Quatrième Évangile, Labor et fides, 1977, tr. 69) 

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2011

ĂN CƠM TÂY, LẤY VỢ ĐẦM


VÕ QUANG YẾN

Hồi tôi còn nhỏ, ăn cơm Tây, lấy vợ đầm thường được cho là chuyện sang trọng, nhưng cũng là ảo tưởng, chỉ nằm trong ước mơ. Thời sự biến chuyển, số mệnh đưa đẩy, thế rồi nhiều chuyện không tưởng cũng được thực hiện…
Riêng phần tôi, ăn cơm Tây không phải là chuyện xa vời. Thời tiểu học, khoảng những năm đầu thập niên 40, tôi ở nhà anh tôi ở Vĩnh Điện, tỉnh lỵ Quảng Nam. Anh tôi ham mê quần vợt, lập hội, xây sân rồi cùng bạn bè tập dượt. Có khiếu nên anh tiến bộ nhanh chóng, dần dần tại chỗ anh không tìm ra nhiều đối thủ cùng mức. Thế là cuối tuần, chủ nhật, anh hay đi chơi ở các câu lạc bộ Hội An (hồi ấy thường gọi Faifo) hay Đà Nẵng (thời Pháp mang tên Tourane, nói ghép Tour Han - không đọc chữ H - từ tên địa danh Tháp Hàn, tựa như Baie d’Along thay vì Vịnh Hạ Long). Lắm khi tôi được đi theo, hai thành phố nầy không xa Vĩnh Điện bao lăm. Đi Hội An thì ăn tiệm Tàu. Tại Đà Nẵng, thỉnh thoảng anh tôi đem tôi đi ăn cơm Tây. Món ăn thường là bít tết với đậu Hà Lan (beefsteak-petis pois). Tôi còn nhớ lần đầu vụng về tập sử dụng dao nĩa, nhưng anh tôi đoán biết trước, chọn bàn trong góc phòng để ít khách trông nhìn. Cái khó là cắt thịt giữa một dĩa đậu, trượt dao một tí là đậu văng ra khỏi dĩa, nhất là khi dao không bén lắm. Nhưng dần dần rồi cũng quen. Hồi ấy chưa thấy có phó mát trong các quán cơm. Thức ăn nầy tôi được nếm lần đầu năm 1947, khi còn là học sinh trung học, tôi mở lớp dạy con trẻ chiều thứ tư tại nhà anh tôi trên đường Bờ sông An Cựu. Một em bé có mẹ bán hàng cho lính Pháp một hôm đem biếu tôi một bao kẹo kèm thêm chewgum và một gói bọc nhôm sạch sẽ trông rất hấp dẫn. Sau khi bãi lớp, các em ra về, tôi mở nhôm ra, cắn vào, hy vọng một món ăn ngọt ngào, không ngờ là một thức ăn nồng thúi chưa bao giờ thưởng thức: đó chỉ là một phó mát nhẹ nhất, loại Con bò cười thường thấy bán ngày nay nhưng là nếm lần đầu nên có một cảm giác khó chịu, tương tự mùi vị sầu riêng đối với những người mới ăn lần đầu tiên. Sau nầy, nhiều bạn bè quen biết bên nhà qua ghé lại thăm, nhà tôi thường cho dọn phó mát cuối buổi ăn, thì thấy không mấy ai thích tuy phó mát - rượu đỏ là món thường rất được thưởng thức của người Pháp và nói chung người phương Tây.
Lần sau đó tôi ăn cơm Tây là ở trên chiếc tàu thủy La Marseillaise chở hành khách từ Sài Gòn qua Marseille cuối thập niên 40. Chỉ trong thời gian không đầy mười năm mà từ một thằng bé chân không, quần đùi chạy bắn chim trên đồi hoang sim tím, tôi trở thành một sinh viên được may mắn đi du học bên phương trời Tây xa thẳm. Ăn cơm Tây lần nầy không sang trọng bằng ở quán cơm Đà Nẵng, có khăn bàn trắng, có khăn chùi tay,… Đi tàu hạng ba với lính chiến Pháp hồi hương, khách phải mang mâm thiếc xếp hàng lãnh phần mình rồi lên ngồi ăn trên boong tàu. Thực đơn giản dị gồm có khoai tây luộc, một miếng thịt nhỏ thêm vào một muỗng mứt. Lần nầy không có chuyện cắt thịt phiền phức vì không có dao nĩa, chỉ có một cái muỗng nên phải dùng răng cắn thịt. Thường ở bên ta hồi đó vào dịp Tết nhất mới mua khoai tây để hầm với thịt thành một món ragu rất ngon, nhưng ở đây khoai tây luộc với miếng thịt dai, có khi dù là khoai nghiền, thật khó nuốt. Giờ đây nhớ lại mà thèm da diết chén cơm mềm dẻo dù chỉ ăn với mắm ruốc hay nước tương. Sau nầy mới biết khoai tây là món quốc hồn quốc túy của người Pháp, người Đức như cơm của người châu Á. Hôm tàu ghé bến Djibouti, một anh bạn đồng hành dẫn lại thăm ông chú làm việc ở sở bưu điện, được mời ăn cơm, thế là cả bọn trẻ ăn hết kho gạo của gia đình ông ta. Gần đây tôi mới khám phá ra được một loại khoai tây giống Ratte vùng Touquet miền bắc nước Pháp, chỉ luộc thôi mà ăn thấy có mùi vị chứ không phải lạt lẽo như những loại khoai tây khác.
Món khoai tây luộc nầy theo dõi tôi trong suốt thời kỳ sinh viên ăn ở quán cơm tập thể, mọi người phải xếp hàng lãnh phần như trên tàu thủy, ở Pháp cũng như ở Đức. Có điều ở Pháp, món ăn được dọn trong dĩa đặt trên khay bằng nhựa, tươm tất hơn bên Đức, những năm 50, món ăn được múc thẳng ngay vào mâm thiếc. Tôi nhớ ở Pháp những năm ấy thèm thịt gà đến nỗi mỗi khi có trong thực đơn, cả bọn rủ nhau xếp hàng ăn một lần thứ nhì. Trong số các quán cơm sinh viên có những quán dành cho sinh viên thuộc Hồi giáo. Vào dịp lễ Ramadan, họ không ăn bữa trưa, trái lại bữa tối thực đơn tương đối khá thịnh soạn, phải trả đến hai vé. Thế là chúng tôi không nề hà xông vào. Phải nói món ăn của họ có hương vị không kém các món của ta và chắc chắn đậm đà hơn món khoai tây luộc. May ở Paris, có những quán cơm sinh viên gọi là diététique, cùng giá, thực đơn tương đối đầy đủ hơn, dành cho những cô cậu cần bồi dưỡng sức khỏe trong số ấy có những cô có mang, đặc biệt ông chồng cũng cùng được đi ăn. Thế là ngày nào còn thẻ sinh viên là cả hai vợ chồng tôi còn tiếp tục hưởng chế độ ưu đãi ấy kéo dài cho đến đứa con thứ hai của chúng tôi. Thật ra cũng không quá đáng vì với ngân quỹ rất giới hạn hồi ấy, chúng tôi không có mấy dịp tu bổ thêm trong các quán cơm ngoài phố. Tôi còn nhớ hồi ấy cạnh ga tàu lửa Lyon ở Paris có những quán Tàu, nay không còn nữa, bán mì rẻ tiền. Cái sang của bọn sinh viên chúng tôi là chủ nhật kéo nhau lại ăn một tô mì khô hay mì nước độc nhất để quên mùi khoai tây luộc trong tuần.
Nói chuyện ăn uống, tôi còn nhớ một kỷ niệm thú vị. Hồi ấy công tác ở Trung tâm Khảo cứu Khoa học, tôi còn còn làm Tổng thư ký nhóm Hóa học hữu cơ của Hội Hóa học Pháp. Trong số các nhiệm vụ, tôi có bổn phận tổ chức những cuộc hội thảo của nhóm và từ đó luôn cả chuyện ăn ở của các giáo sư được mời đến thuyết minh cùng buổi tiệc liên hoan ngày cuối. Mấy tháng trước, tôi đã phải chạy kiếm một quán ăn rộng rãi có thể và nhất là bằng lòng tiếp đón một số đông khách ăn. Đây tôi mới biết nhiều quán ăn ngon ít thích đón cả một đoàn nhiều người, sợ ồn ào. Tôi cũng là người chỉ định loại rượu sẽ kèm theo các món ăn: nhãn hiệu Saint-Amour tôi đã từng thưởng thức mùi vị nồng mà bùi thích hợp với thực đơn hôm ấy. Lúc bắt đầu tiệc, người dọn bàn cần trình bày chai rượu vừa mới khui để được chấp nhận trước khi rót vì rượu có thể có mùi hư hay mùi nút chai. Thường anh ta đưa đến một vị cao niên mà anh cho là người chủ tọa buổi tiệc, nhưng trước mặt biết bao là giáo sư, có ông già lụm khụm, có ông râu ria xồm xoàm, biết ai là người có ưu tiên, cuộc đánh giá rất là tế nhị. Đằng khác anh chỉ biết có một mình tôi là người đã đến đặt hàng, nên không do dự lâu, anh đến xin tôi nếm thử rượu. Thế là tôi đứng dậy, trước mặt tất cả các khách quan các nước, giáo sư, tiến sĩ, kẻ trẻ người già, hai mắt nhìn về phía tôi chờ đợi một phán xét, tôi, một người Á Đông giữa những khách phương Tây sành rượu, lại tương đối trẻ, trịnh trọng nâng cốc nhấm nháp, lưỡng lự suy nghĩ rồi mới gật đầu cho phép dọn rượu. Tôi không bao giờ nghĩ mình lại có được một vinh hạnh bất ngờ như vậy, ngang hàng với nỗi hân hoan hôm dạ hội Trường Quốc gia Cao đẳng Hóa học, tôi và nhà tôi trịnh trọng bước lên thang lầu hội trường giữa hai hàng sinh viên nam nữ y phục chỉnh tề vui vẻ đón chào khách quan…
Ta có câu nhập giang tùy khúc, nhập gia tùy tục. Lấy vợ đầm, khác với bên Mỹ mỗi cộng đồng có tổ chức riêng biệt, tôi nghĩ định cư ở đất Pháp, muốn hội nhập thì cần phải sống theo kiểu Tây, nhưng cũng phải làm sao tránh quên nếp sống, nguồn gốc của ta. Tôi nhận thấy trong nhiều cặp vợ chồng dị chủng, ăn ý với nhau là khi đôi bên tham hiểu văn hóa của nước mình và sẵn sàng đón nhận văn hóa của người bạn đường. Muốn được vậy cần phải mất công, bỏ nhiều thời gian tìm hiểu nhau, tìm hiểu văn hóa đôi bên, trước khi quyết định một cuộc sống chung. Thật ra chân lý nầy không phải chỉ cần thiết trong hôn nhân dị chủng. Tôi còn nhớ ở bên nhà lúc trước có những người đi làm rể hằng tháng, hằng năm. Buồn cười là có trường hợp một anh ít át, lui tới mãi mà không biết tỏ tình cho đến khi cô gái đi lấy một ông chồng khác. Ngày nay, rất đáng tiếc là thời gian làm quen, tìm hiểu, một thời kỳ biết bao đẹp đẽ, sống động, hiếm có, có khi độc nhất trong đời, rút ngắn lại, có khi vài ngày, lắm lúc vài giờ. Có người đùa khoe gặp nhau ban sáng, hôn nhau buổi trưa, tối đã ăn nằm với nhau… Ngoài chuyện phụ nữ Việt hiếm có ở Pháp hồi trước, lại khó tính (phi đại học bất thành phu phụ!), cũng nên khoan dung đối với những sinh viên trẻ tuổi du học nhiều chục năm trước khi có đoàn người Việt di tản ồ ạt đổ bộ lên đất Pháp. Hồi ấy, một bọn trẻ chúng tôi hay chạy theo một cô gái đẹp con một ông chủ quán cơm ở xóm La Tinh, rút cuộc người được trúng điểm là một anh chàng thạc sĩ (agrégé Pháp ít có vì thi khó, loại bằng của các giáo sư Hoàng Xuân Hãn, Phạm Duy Khiêm) thật xứng đôi vừa lứa, nhưng rồi đôi trai tài gái sắc cũng chẳng chịu đựng được sức tàn phá của thời gian. Ngày đi học, tối tạm đi làm những công việc không cần chuyên môn như rửa chén, dọn bàn trong quán ăn, họ ít còn thì giờ tìm kiếm bạn đường. Quen biết giới hạn trong số những người cùng làm việc, thường là những cô gái Pháp cùng số phận ở tỉnh lên kiếm việc làm nơi chốn phồn hoa, hay những cô người nước ngoài rời bỏ xứ sở đi tìm hạnh phúc nơi thành phố ánh sáng, cũng tạm rửa chén, dọn bàn trong lúc kiếm cách tiến lên trên thang cấp xã hội. Không thận trọng trong quan hệ thỏa mãn sinh lý bình thường cần thiết vào tuổi thanh niên, thường là bất ngờ, chắc chắn không định trước, một đứa con ra đời. Ngang đây, một đức tính cần nhấn mạnh là người Việt ta ít ai bỏ rơi con cái, khác với lính tráng những quân đội viễn chinh ngoại quốc đã từng quấy nhiễu nước ta. Thế là cưới nhau mà ít hiểu biết nhau. Đây có thể là bước đầu trả lời câu hỏi một vị giáo sư bên nhà đã đặt cho tôi: tại sao trí thức Việt ta ít thấy người lấy vợ đầm khoa cử?
Những cuộc hôn nhân gấp gáp nầy để vớt vát tình thế khó tồn tại lâu dài. Tình yêu xác thịt, dù là giữa trai thanh gái lịch, nói như khi chứng minh một phương trình toán học, là điều kiện cần nhưng không đủ để đạt đến hạnh phúc, khác xa tình yêu lãng mạn thời xưa bên ta. Một anh bạn của tôi quen một cô nữ khán hộ khi anh phải nằm ở bệnh viện nhưng cưới nhau quá mau nên tuy mức xã hội đồng đều, họ sớm bỏ nhau. Tôi có nghe một người quen sung sướng bảo ngày nay có thể tự do rời bà vợ chịu đựng từ nhiều năm nay vì đứa con không mong muốn đã thành người, khỏi phải phiền lụy ông cha nữa. Tuy nhiên, một người quen khác, lúc trẻ đi rửa chén trong quán cơm, chịu khó học hành và trở thành khảo cứu viên khoa học, có chân đứng vững vàng trong xã hội. Nhưng bà vợ gặp vào dịp đó, không chịu học hành gì, vẫn luôn còn ở địa vị người dọn nhà, tuy đảm đang, không theo dõi được ông chồng trong mọi lãnh vực. Rút cuộc, không bao giờ thấy bà trong các buổi tiếp tân, trong các cuộc gặp gỡ các bạn đồng nghiệp. Tôi chắc ở trong nhà họ cũng chẳng có những cuộc bàn cãi trí thức, thích thú cần thiết cho một người có học. Cặp vợ chồng nầy không bỏ nhau nhưng thấy như mỗi người sống một thế giới riêng trong cùng một không gian. Tôi đã nêu ra vài thí dụ thường gặp nhưng không phải cuộc hôn nhân dị chủng nào cũng thất bại như vậy. Lúc tôi còn nhỏ, có thầy Nguyễn Dương Đôn đem vợ đầm về Huế, chiều chiều thấy hai vợ chồng vui vẻ chèo chiếc thuyền nhỏ périssoire trên sông An Cựu, nghe nói rất tâm đầu ý hợp với nhau. Có nhiều cặp vợ chồng gặp nhau khi còn học ở trường hay khi đi làm trong công sở thì mức trí thức rất tương đương, dễ ăn ý với nhau. Cạnh nhà tôi có một cặp vợ chồng, anh người Việt, chị người Pháp, cả hai đều là giáo sư đại học thì chắc là không phải tình cờ mà gặp nhau. Trong phòng thí nghiệm của tôi có anh bạn cưới cô sinh viên được anh chỉ dẫn bảo vệ luận án tiến sĩ, tuổi tác hơi xênh lệch một tí nhưng không thành vấn đề mỗi khi đã đồng chí hướng. Có điều họ không liên lạc với cộng đồng người Việt, một phần có lẽ lỗi tại anh chồng đã sống lên trong môi trường Pháp từ bên nhà nên anh thường lãnh đạm với quê hương, phần kia là vì cô vợ Pháp không chịu bỏ công tìm hiểu văn hóa quê chồng. Và đây là một vấn đề nan giải thường đã có xảy ra trước đây ở một vài gia đình Việt-Pháp…
Ngày nay trong đám trai trẻ, cô gái Pháp muốn đi lại với anh thanh niên Việt lẽ tất nhiên một phần vì cảm phục đức tánh của anh ta nhưng một phần khác cũng là vì đất nước của anh chàng đã có sức quyến rũ. Vì vậy tuy có vợ Pháp, nhiều người Việt đã về nước công tác, đằng sau có bà vợ thúc đẩy. Tôi tự hỏi về bản thân tôi, tại sao một cô gái trẻ Pháp mới tốt nghiệp trường Sư phạm vào giữa những thập niên 50, mặt mày xinh xắn, tính nết nhu mì, trong lúc cuộc chiến Việt-Pháp đang thao diễn dữ dội trên đất nước ta, lại muốn giao dịch với một sinh viên quê Huế chưa đỗ đạt gì cả và đồng ý chịu cùng lập gia đình vài năm sau chiến dịch Điện Biên, trong khi không thiếu trai trẻ trí thức bản xứ to lớn đẹp trai, bằng cấp đầy túi. Vẫn biết cô đã đọc nhiều sách về Á Đông trước khi gặp tôi nhưng câu trả lời có thể tìm ra ở cuộc giao hảo trong môi trường văn hóa. Khi cả đôi bên dựa lên kiến thức về văn hóa của mình để kiếm cách học hỏi, tìm hiểu văn hóa của người bạn đường thì tất nhiên trí óc rất dễ gặp nhau trên lối đi qua lại dẫn đến một mối tình thắm thiết. Chúng tôi đã làm quen với nhau trong một cuộc khiêu vũ trên công trường Sorbonne ở Paris nhân lễ quốc khánh Pháp năm lịch sử 1954, nhưng phải xa nhau ngay vì tôi đã sẵn khăn gói lên đường đi du học Thụy Sĩ. Trong những năm xa cách, qua những bức thư, chúng tôi đã mặc sức tâm tình, có khi còn dễ dàng hơn khi gặp mặt. Và đây hết còn chuyện chủng tộc mà chỉ là giao lưu giữa hai người trai trẻ cùng cảnh ngộ chia sẻ nhau một lý tưởng về cuộc đời. Ngày nay, trong nhiều nước, trai trẻ ăn ở với nhau để tìm hiểu nhau, có khi có con với nhau rồi mới cưới nhau: họ có lý một phần nào nhưng cuộc sống chung không ràng buộc cũng có những bất tiện của nó. Trong lãnh vực gia đình, tôi thường được đánh giá là người chồng, người cha kiểu mẫu: tôi không nề hà chẳng hạn bồng con cho bú sữa trong bình, tắm rửa nó khi còn nhỏ,… Hôm về vùng Morvan quê vợ, nơi đàn ông là những đấng trượng phu không chịu nhúng tay dù chút ít về việc nội trợ, họ ngạc nhiên (và chắc cũng chẳng đồng ý nhưng không dám nói ra) thấy một ông tiến sĩ chùi đít cho con hay tắm rửa cho nó…Kết quả là ngày nay các con tôi, dù trai hay gái, khoa cử đại học, đều theo gương mẫu tôi trong sự hân hoan của người bạn đường Pháp.
Học trung học trong những năm chiến tranh, thiếu điều kiện và thì giờ, tôi chỉ chú trọng đến những môn khoa học cần thiết để thi cử mà bỏ rơi phần lớn những môn về văn hóa. Khi sống trong một môi trường tân tiến, tôi mới thấy lỗ trống trong vốn liếng kiến thức của mình. Cô vợ tôi cũng thấy vậy nên, ngay từ thuở sinh viên thiếu thốn, cô luôn kiếm cách đưa tôi đi viếng các viện bảo tàng, kiếm sách cổ điển cho tôi đọc sau đó đưa đi xem những vở kịch trình bày các cuốn sách kia,… để tiếp nhận một ý niệm về văn hóa mà mọi học sinh học Pháp tốt nghiệp trung học phải có. Trái lại, nhất là khi chúng tôi có ý định về Việt Nam sau khi học xong, qua ảnh huởng của tôi, cô đi học ngôn ngữ, văn minh nước mình. Không phải tình cờ mà ngay sau khi cưới nhau, cô đã ghi tên ở ban tiếng Việt ở Trường Viễn Đông Sinh Ngữ mà cô theo học song song với Trường Đại học Sư phạm Khoa học. Tuy không có gì khó khăn lắm ở tuổi thanh niên ham học nhưng phải tổ chức thời khóa biểu và nhất là luôn phải có một lòng cố gắng dai dẳng, một mối tin tưởng không bờ. Sau nầy, sau mấy chục năm giảng dạy hóa học ở Đại học, vào lúc về hưu, cô lại tiếp tục lết ghế nhà trường đi học tiếp tiếng Việt và lấy chùa Thiên Mụ làm đề tài luận văn cử nhân ngôn ngữ và văn minh Đông Á. Tôi mừng thầm, nếu không nói thạo tiếng Việt, cô đã chịu bỏ công tìm hiểu sâu rộng tâm hồn Việt Nam tất nhiên góp phần vào tình yêu ông chồng. Tôi còn nhớ những năm 60, trong báo Bách Khoa, chị Mộng Trung có bài công kích hôn nhân Việt-Pháp và gây lên một cuộc bàn cãi hào hứng. Trong bài tựa cuốn Gửi thương về Huế của tôi, anh bạn Cao Huy Thuần có nhắc lại “hồi hấp dẫn nhất” nầy và đi đến kết luận: anh chị là những người hiếm hoi có khả năng làm tôi mất lập trường!
Tôi mừng thầm tuy lấy vợ đầm, tôi đã may mắn gặp người tâm đầu ý hợp, chia sẻ chí hướng. Nhớ lại hồi báo tin cho gia đình trước khi cưới, cụ mạ tôi đã mất, chị tôi, người đã nuôi nấng tôi hồi tôi còn nhỏ, chỉ biết đời sống hằng ngày mấy bà đầm Pháp ở thuộc địa, viết cho tôi một lá thư dài, bảo tôi nếu lấy vợ đầm thì không khéo phải đi chợ, nấu ăn, rửa chén, xuốt nhà, có khi còn phải dẫn chó của vợ đi chơi. Chị cũng có một đoạn bảo tôi dịch lại nội dung cho cô vợ tương lai của tôi: cô phải biết về ở Việt Nam, cô sẽ không có điều kiện ăn ở như ở Pháp đâu, nhà cửa thiếu tiện nghi, đời sống rất chật vật và chưa chắc vợ chồng có khả năng thuê mướn một đoàn bồi bếp hầu hạ trong nhà. Cô phản ứng ngay: quê em ở vùng Morvan xa lánh, bếp không có nước chảy, nhà không có máy sưởi, phòng tắm, cầu tiêu,…thì chắc cũng chẳng hơn gì điều kiện sinh sống ở nước anh! Còn chuyện nội trợ thì trong các gia đình trung lưu ở Pháp hiện nay, nhất là có con và hai vợ chồng cùng đi làm ở ngoài thì ít có ông chồng không buộc phải bắt tay giúp vợ, dù là giáo sư, tiến sĩ. Chỉ có điều tôi không phải dẫn chó của vợ đi chơi vì trong nhà chúng tôi không nuôi chó. Tuy vậy tôi có biết một cặp vợ chồng trẻ, cả hai đều người Việt, đều tốt nghiệp kỹ sư Trường Lớn, xứng đôi vừa lứa, có công ăn việc làm đàng hoàng, ở nhiệm sở có trách nhiệm lớn, tối đi làm về chậm thì đem nhau đi ăn cơm tiệm, nội trợ giảm xuống mức tối thiểu. Sống với nhau được vài năm, đôi uyên ương quyết định chính thức cưới nhau nhưng từ đây chị vợ, ngoài công việc ở sở như lúc trước, bây giờ còn phải đảm đương công việc ở nhà, tuy có người giúp việc, đầu tắt mặt tối, thế là cuộc sống chung hết còn đầm ấm và anh chị xa nhau… Bên phần trí thức, tôi không có chút trở ngại và vẫn tiếp tục tự do chăm lo văn chương chữ nghĩa tiếng Việt để giữ cá tính của tôi. Tiếc thay chị tôi nay không còn nữa để thấy mặc dầu dị chủng chúng tôi sống hài hòa giữa một bầy con cháu, đến nay đã hơn một nửa thế kỷ. Có người hỏi trong gia đình ăn uống ra sao. Ít có thì giờ, thường chúng tôi ăn cơm Tây nấu cho mau, nhưng nhà tôi cũng như con cái đều sử dụng thạo đũa khi ăn cơm Việt. Thỉnh thoảng, nhà tôi hầm xương suốt tối thứ bảy nấu phở hay chúng tôi động viên tất cả con cái sáng chủ nhật cuốn chả giò! Trong nhà, mùi mắm nêm thường hòa mình với mùi những phó mát đủ loại, ngay cả Roquefort, Munster mặn nồng. Con gái chúng tôi thường hay nói, ít nhất cũng về mặt ẩm thực: cám ơn ba, cám ơn má, nhờ ba má mà chúng con hưởng thụ được luôn một lúc hai nền văn hóa. Thật ra, văn hóa bao trùm một không gian rộng lớn hơn cần phải được đề cập đủ mọi mặt trong đời sống hàng ngày. Các bạn bè thường bảo nhà tôi được Việt hóa một nửa còn tôi thì đã một phần nào thành Tây trong thái độ, cư xử. Trong lời đề tặng cuốn sách Cây nhà lá vườn của tôi, không khách sáo, tôi đã thành thật viết: Âu yếm tặng Liliane đã cùng tôi sát cánh trên đường khảo cứu khoa học cũng như trong cuộc hành trình vào văn hóa từ thuở công tác ở phòng thí nghiệm đến thời về hưu.