Thứ Sáu, 27 tháng 5, 2011

HIỆN TƯỢNG "NHẬU" XÉT NHƯ MỘT VẤN ĐỀ XÃ HỘI

 

Trần Hữu Quang 
(trích báo SGGP online) 

Trong vòng hai thập niên qua, tức kể từ đầu thời kỳ đổi mới đến nay, người Việt Nam uống bia và rượu ngày càng nhiều hơn. Số liệu thống kê cho thấy tốc độ gia tăng rất nhanh của ngành sản xuất rượu bia trên cả nước. Năm 1990, sản lượng rượu các loại mới chỉ đạt 80 triệu lít và bia các loại 100 triệu lít, nhưng đến năm 2010, sản lượng rượu đã lên tới 387 triệu lít (tăng gấp 4,8 lần) và bia 2.377 triệu lít (tăng gấp 24 lần trong 20 năm).
Tính riêng bia năm 2010, nếu chia đều cho dân số từ 15 tuổi trở lên thì bình quân cả nam lẫn nữ mỗi người được 37 lít bia, tức gần năm két bia một năm (tính mỗi két 24 lon 330 ml). Tuy nhiên, cũng cần lưu ý thêm là những con số trên chưa tính tới số rượu bia sản xuất không đăng ký, nhất là rượu đế ở nông thôn mà có người ước lượng có thể chiếm tới 70% tổng sản lượng rượu cả nước.
Sự chuyển hóa của ngôn từ
Thực ra, chữ “nhậu” xuất hiện đã lâu ở Nam bộ, ít ra từ khoảng thế kỷ 18, và hồi đó nhậu chỉ đơn giản có nghĩa là uống, thí dụ nhậu nước là uống nước, nhậu rượu là uống rượu, ăn nhậu là ăn uống(1). Sau đó, vào thập niên 1960, chữ nhậu dần dà chuyển hẳn sang ý nghĩa uống rượu (2).
Nhưng chữ nhậu theo cách hiểu bây giờ có lẽ không chỉ có nghĩa là uống rượu, mà là vừa uống rượu vừa ăn lai rai món gì đó (thí dụ: “nhậu một bữa thật say”, “mua đồ nhậu”(3)), và đáng chú ý hơn, chữ nhậu còn bao hàm cả ý nghĩa là ăn và uống rượu cùng với người khác, vì như cổ nhân nói, “trà tam rượu tứ” (thí dụ: “đãi một chầu nhậu”, “rủ nhau đi nhậu”; ai mà nói “đi nhậu một mình” thì bạn bè sẽ ngờ rằng người này đang có vấn đề !). Bản thân chữ nhậu không có nghĩa xấu, còn khi nói “nhậu nhẹt” hay “bợm nhậu” thì mới hàm ý chê bai.
Như vậy, từ chỗ ngày xưa chỉ có nghĩa là uống, nội hàm của từ nhậu bây giờ đã chuyển thành một loại hình sinh hoạt đặc trưng không chỉ ở vùng Nam bộ mà còn trên cả nước, và có lẽ rất khó mà dịch được ra tiếng nước ngoài. Sự chuyển hóa của ngôn từ này chắc hẳn không diễn ra một cách ngẫu nhiên, mà chủ yếu xuất phát từ sự phổ cập của hiện tượng “nhậu” trong những năm qua.
Nhậu là một hành vi xã hội
Nhìn dưới góc độ xã hội, nhậu hiển nhiên không phải là một hành vi ăn uống đơn thuần. Nếu nhậu luôn luôn là nhậu với ai đó, thì chắc hẳn cần nhìn nhận đây là một hành vi xã hội, tức là một hành vi hướng đến người khác, bao hàm những mối tương giao xã hội với người khác trong bữa nhậu, trong đó quan trọng nhất là các hành vi truyền thông và giao tiếp với nhau (trao đổi, kể chuyện, tâm sự, tranh luận...).
Người ta có thể tổ chức một bữa tiệc để mời bạn bè lâu ngày hội ngộ đến nhậu chơi, để làm đám giỗ, đám cưới, để mừng sinh nhật, mừng thi đậu, tạ ơn ân nhân, để chia vui hoặc giải sầu với bạn bè, để mừng trúng số hoặc trúng mánh, để bàn chuyện làm ăn, hay thậm chí để mua chuộc hay chạy chọt... Có cả ngàn lý do để nhậu kể ra không hết, dù vậy tựu trung bữa nhậu bao giờ cũng là cơ hội để gặp gỡ, tức là để hiện thực hóa các mối quan hệ xã hội.
 Nhưng vấn đề đặt ra là tại sao bây giờ người ta lại nhậu nhiều hơn so với trước? Phải chăng do thu nhập bây giờ khá hơn (do dư giả, do phú quí sinh lễ nghĩa, nhưng ngược lại cũng có những người càng nghèo lại càng nhậu!), do các mối quan hệ xã hội ngày càng rộng hơn, hay do những nguyên nhân tâm lý xã hội xuất phát từ những điều kiện kinh tế-xã hội đặc thù nào đó?
Để trả lời được những câu hỏi trên, hẳn nhiên cần tiến hành những cuộc khảo sát và nghiên cứu về chủ đề này nơi các giới, các lứa tuổi, các tầng lớp xã hội, nơi nông thôn và đô thị... với các lối tiếp cận xã hội học, tâm lý học xã hội và nhân học.
Tuy nhiên, điều có thể khẳng định là hiện tượng nhậu ngày càng tràn lan đã thực sự trở thành một vấn đề xã hội. Ở đây, chúng tôi chỉ thử nêu lên một vài ý tưởng mang tính chất giả thuyết về vấn đề này.

Hiện tượng nhậu xét như một vấn đề xã hội
Trên báo chí và các diễn đàn khác nhau, người ta thường đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau về hiện tượng nhậu và các hậu quả có thể có của nó, nhưng tựu trung đáng chú ý nhất có hai luận điểm: (a) nhậu là nguyên nhân của sự suy thoái, thậm chí của hành vi tội phạm; (b) nhậu không phải là nguyên nhân, mà là do suy thoái cá nhân nên dẫn đến chuyện nhậu thường xuyên. Chúng tôi cho rằng cả hai luận điểm này đều chưa ổn thỏa vì quá giản lược và chỉ đúng một phần.
Trước hết, chúng ta cần lưu ý rằng chữ nhậu không bao hàm một thực thể duy nhất đồng dạng, bởi lẽ có nhiều dạng và nhiều mức độ nhậu khác nhau. Do vậy, sự phê phán không thể bỏ hết mọi thứ vào trong một cái rọ, mà cần phân biệt từng loại hình cụ thể.
Mặt khác, việc nhậu nói chung hay rượu bia nói riêng tự chúng chẳng có gì xấu hay đáng lên án. Rượu thường được xem là có tác dụng gây hưng phấn, cũng như việc bạn bè thỉnh thoảng gặp nhau đi nhậu tự nó là một sinh hoạt bình thường và lành mạnh.
Lẽ tất nhiên, uống quá chén thì đâm ra say xỉn, và nếu uống đều đều hàng ngày đến mức nhậu nhẹt bí tỉ, nhậu quắc cần câu, nhậu tới bến, thì có thể dẫn đến nhiều nguy cơ về bệnh tật, tai nạn giao thông, và thậm chí có thể đi đến những trục trặc trong quan hệ gia đình và quan hệ xã hội. Xét về mặt thể lý, có thể nói rượu có tác dụng phần nào tương tự như ma túy, tức là đã nghiện rồi thì khó lòng từ bỏ, từ cảm giác lâng lâng ban đầu dễ dẫn đến những ảo giác khi quá chén, mụ đầu óc, và có thể khiến mất tự chủ bản thân.
Tuy nhiên, dù vậy, theo thiển ý chúng tôi, vẫn không ổn khi cho rằng men rượu tự nó là thủ phạm gây ra tệ nạn hay tội ác. Thông thường những hành vi loại này thực ra không chờ đến khi có rượu bia mới phát sinh mà thường đã có mầm mống từ trước, bắt nguồn từ những hoàn cảnh xã hội, những mối quan hệ xã hội, cũng như từ một số đặc trưng nhất định trong tiểu sử cá nhân, và rượu bia lúc này chỉ là một thứ chất xúc tác trực tiếp cuối cùng mà thôi. Hẳn do vậy mà có một số người hay “mượn rượu” để có cớ chửi bới hoặc la lối... Vả lại, cho dù Nhà nước có cấm hẳn rượu bia thì cũng khó lòng mà hình dung xã hội sẽ không còn tệ nạn và tội phạm.
Chúng tôi nghĩ rằng không đúng khi lên án nhậu là một căn bệnh, và cũng không phải do suy thoái cá nhân nên người ta đâm ra nhậu nhẹt say sưa, bởi lẽ suy cho cùng, hiện tượng nhậu nhẹt có lẽ chỉ là triệu chứng của một số căn bệnh nào đó trong bản thân xã hội, tức là bắt nguồn từ sự suy thoái của xã hội chứ không phải từ sự suy thoái của cá nhân.
Dĩ nhiên, vì những hậu quả thể lý lẫn hậu quả xã hội có thể có của chất cồn nếu uống thái quá, nên cần phải có những biện pháp nhằm hạn chế việc tiêu thụ rượu bia trong tình hình hiện nay. Nhưng vì nhậu cũng là một hành vi xã hội và hiện tượng nhậu đã trở thành một vấn đề xã hội, nên chúng ta còn cần phải đi tìm những căn nguyên sâu xa của vấn đề này trong các mối quan hệ xã hội và không gian xã hội, chứ không phải chỉ đơn giản quy tội cho chất men hay bản thân bàn nhậu.
Một bữa nhậu có thể có tác dụng giải tỏa những ức chế mà người ta thường gặp phải trong cuộc sống hàng ngày, khiến người ta dễ giãi bày tâm sự để chia sẻ với bạn bè hay đồng nghiệp (nhưng phải nói thêm là cũng có những trường hợp muốn “giải sầu” nhưng “rút dao chém xuống nước, nước càng chảy mạnh, nâng chén tiêu sầu, càng sầu thêm!”).
Đối với một số tầng lớp nào đó, cuộc nhậu cũng có thể chỉ là một thứ giết thời giờ vì không biết làm gì khác, về nhà thì không có gì để làm, cũng chẳng thích đọc sách, dạy con học thì dạy không nổi... thực chất là nhằm khỏa lấp sự thiếu hụt hay đúng hơn là sự trống rỗng trong đời sống tinh thần, không biết đầu tư thời gian vào cái gì, và cũng chẳng có sự nghiệp gì để dồn công sức vào.
Nhưng nếu bây giờ hiện tượng nhậu ngày càng tràn lan thì phải chăng đó là do những dạng tâm trạng ức chế khác nhau đã lan ra phổ biến trong các tầng lớp xã hội, và chuyện đi nhậu trở thành như một thứ lối thoát tiêu cực, một sự chạy trốn hay che mắt khỏi thực tại? Phải chăng đây là biểu hiện của một tình trạng vong thân hay tha hóa, hiểu theo nghĩa triết học chứ không phải theo nghĩa đạo đức, khi mà người ta thấy bất an và mất đi sự tự tin, không cảm thấy phát triển được và tự khẳng định được trong không gian lao động và không gian xã hội vốn còn nhiều nghịch lý và bất trắc, mà ngược lại chỉ nhận ra bản thân mình khi ăn nhậu bù khú với bạn bè?
Nếu quả đúng như vậy thì hiện tượng nhậu ngày nay không còn chỉ là một vấn đề xã hội mà đúng hơn đã trở thành một vấn đề của xã hội.

___________________________________________________________
(1) Xem Tự vị Annam-Latinh năm 1772-1773 của Pigneaux de Béhaine, do Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên dịch và giới thiệu, tr.341; Huỳnh Tịnh Của, Đại Nam quấc âm tự vị, tập II, Sài Gòn, Imprimerie Rey, Curiol&Cie, 1896, tr. 127.
(2) Cuốn Việt Nam tự điển của Hội Khai trí Tiến đức xuất bản năm 1931 vẫn còn giải thích chữ nhậu là uống, như nhậu rượu, nhậu nước (tr. 409). Nhưng đến cuốn Từ điển Việt Nam của Thanh Nghị ấn hành năm 1958 thì bắt đầu định nghĩa chữ nhậu là “uống, thường là uống rượu” (tr. 967). Và đến cuốn Việt Nam tân từ điển minh họa cũng của Thanh Nghị in năm 1967 thì chữ nhậu chỉ còn lại một nghĩa là “uống rượu”, thí dụ: rủ nhau đi nhậu (tr. 1.010).
(3) Xem Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (chủ biên), Viện Ngôn ngữ học, tr. 715.

Lai rai với chuyện nhậu
Ngày trước, nhậu chỉ có ở giới bình dân, ít tiền, hoặc lính tráng thắng trận, thua trận. Công chức, giáo chức, bác sĩ gần như không có nhậu mà chỉ có tiệc, chủ yếu tại nhà, uống ít nhưng phải là rượu ngon... Đáng nói hơn là tuyệt đối không có chuyện dùng tiền công (thuế của nhân dân) để nhậu, không có cảnh ngành tỉnh này tiếp ngành tỉnh kia, hết sân nhà tới sân khách.
Ngày nay giới nào cũng nhậu, cũng la lối om sòm trong tiệc. Người nhậu đa phần là công chức. Người lãnh lương thấp cũng nhậu. Vì sao người ta nhậu nhiều, vừa tốn nhiều thì giờ vừa hao tổn sức khỏe.
Vì sao ít người dành thời gian ấy để nghiên cứu, học tập, rèn luyện thể lực, thụ cảm nghệ thuật. Phải chăng không cần những thứ đó, họ vẫn có nhiều tiền, vẫn thăng quan tiến chức?
Trần Chí Kông


Thứ Năm, 26 tháng 5, 2011

THƠ CON CÓC VÀ CÁI DẸP THÔ THÁP


Nguyễn Hưng Quốc


Trong văn học dân gian, rất gần với bài thơ “Con cóc” – đã được phân tích trong hai bài trước - là bài ca dao:
Cái kiến mày đậu cành đào
Leo phải cành cọc leo vào leo ra
Cái kiến mày đậu cành đa
Leo phải cành cọc leo ra leo vào.
hoặc bài đồng dao:
Ông Nỉnh ông Ninh
Ông ra đầu đình
Ông gặp ông Nảng ông Nang
Ông Nảng ông Nang
Ông ra đầu làng
Ông gặp ông Nỉnh ông Ninh.
Bài đồng dao này được nhà văn Bình Nguyên Lộc khen hay, hơn nữa, còn có ngầm ý cho Tản Đà cũng không thể làm nổi (1). Tôi đồng ý. Có điều, chủ đề của bài đồng dao chỉ là sự chật chội, tù túng, quẩn quanh trong đời sống cộng đồng thôn xã Việt Nam ngày xưa cũng như chủ đề bài ca dao trên chỉ là sự bế tắc, cùng quẫn, khốn khó của những thân phận con ong cái kiến trôi giạt giữa đời. Nó không có cái “bận tâm lớn”, cái “băn khoăn siêu hình” - chữ của nhà văn Võ Phiến (2) - như bài thơ “Con cóc”. Ở phương diện này, có lẽ gần hơn với bài thơ “Con cóc” là bài “Một mình đi luồn vô luồn ra trong núi chơi” của Nguyễn Đức Sơn:
 Khi thấm mệt tôi đi luồn ra núi
Cuối chiều tà chỉ gặp cỏ hoang sơ
Bước lủi thủi tôi đi luồn vô núi
Nghe nắng tàn run rẩy bóng cây khô
Chân rục rã tôi đi luồn ra núi
Hồn rụng rời trước mặt bãi hư vô.
Nguyễn Đức Sơn loăng quăng líu quíu đi luồn vô luồn ra trong núi cũng giống như con cóc cứ nhảy, rồi ngồi, rồi lại nhảy đi. Thế thôi. Hai bài thơ đều có cùng một chủ đề: sự vô nghĩa của kiếp người. Đi đâu cũng thấy hư vô. Chất ngất trước mắt. Rợn ngợp trong lòng.
Cùng một chủ đề, nhưng rõ ràng bài thơ “Con cóc” mạnh và sắc hơn bài thơ của Nguyễn Đức Sơn nhiều. Họ Nguyễn, tuy mỏi mệt và tuyệt vọng đến não nề, nhưng tâm hồn ít ra cũng còn chút thanh thản đủ để nhìn ngắm ngoại cảnh chung quanh mình, từ bãi cỏ, cành cây đến nắng tàn; hơn nữa, còn chú ý đến thời gian, thoạt đầu, chỉ là chiều tà, sau, dần dần, biến thành hoàng hôn đang thoi thóp. Chút điểm trang trong hình thức câu thơ, dù rất nhạt, cũng đủ làm cho cảm xúc của Nguyễn Đức Sơn nhẹ đi, lênh ra. Như một niềm hiu hắt. Chỉ là một niềm hiu hắt. Mà như thế bài thơ lại có cái gì chênh vênh: hình tượng đi “luồn vô, luồn ra” trong núi như muốn nói điều gì dữ dội hơn nhiều.
Bài thơ “Con cóc”, ngược lại, trần trụi tuyệt đối. Như một cành gai. Không có đến lá, đừng nói gì là hoa. Nó thô tháp. Nó mạnh bạo. Nó sần sùi. Và cũng có thể nói, nó tàn nhẫn nữa. Nó xoá bỏ hết mọi son phấn và loại trừ hết tất cả cảm xúc thừa thãi để bắt người đọc một mình sững sờ đối diện với sự vô nghĩa của cuộc đời. Không thể có thứ ngôn ngữ nào giản dị hơn thế nữa. Nó có phần giống thứ ngôn ngữ Albert Camus dùng khi viết Người xa lạ: rời, tẻ, lạnh, không chỉ những từ thêu thùa, đẩy đưa mà cả những từ nối, những từ có chức năng diễn giải, phân tích cũng bị tước hết.
Không phải tôi chủ trương văn chương, muốn hay, phải cực kỳ giản dị. Có cái đẹp giản dị và có cái đẹp đài các, đầy son phấn. Ở đây, vấn đề không phải là từ ngữ mà là thái độ: đặc điểm nổi bật nhất của thơ “Con cóc” là sự tự kiềm chế khi nói đến một chuyện cực cùng bi thảm.
Các nhà phê bình văn học hay đả kích trường-phái-thơ-thị-nở vụng về, ngọng nghịu hoặc trường-phái-thơ-đồ-chiểu khệnh khạng, lúc nào cũng lên gân, làm thơ cứ như giảng bài hoặc như bắn súng mà thường quên đi hoặc có khi đồng tình với trường-phái-thơ-thuý-kiều đến nay vẫn là dòng chủ đạo trong nền thơ Việt Nam, đẹp thì cũng có thể gọi là đẹp, nhưng là một cái đẹp rất sáo, rất cũ, đặc biệt, rất ru em và rất dầm dề. Ru em ở nhạc điệu: lúc nào cũng du dương, cũng nhè nhẹ, cũng à ơi. Dầm dề ở cảm xúc: động một chút là thở than, là rơi nước mắt, là Ôi Kim lang, hỡi Kim lang.
Việt Nam không phải là dân tộc duy nhất theo “đạo”- thuý-kiều. Đó là hiện tượng khá phổ biến trên thế giới ở thế kỷ trước, gắn liền với chủ nghĩa lãng mạn, xuất phát từ cái nhìn duy cảm, thói quen thi vị hoá và niềm say mê gãi những vết mụn âu sầu trong hồn mình. Thoạt đầu, nó là một cuộc cách mạng, chống lại tính chất duy lý, tính chất quy phạm, sự sùng bái cái đẹp vĩnh cửu và bất biến của chủ nghĩa cổ điển, mở ra con đường mới cho văn học bằng cách đưa ra một cái nhìn mới đối với vai trò của trí tưởng tượng, một thái độ mới đối với thiên nhiên, nhưng càng về sau tính chất sáng tạo càng phôi pha dần, các nhà thơ biến thành những chuyên viên đi sụt sùi trước những nấm mồ vô chủ, khóc lặng lẽ dưới mưa, ngẩn ngơ khi hoàng hôn xuống, lâu lâu lại gào lên não nuột: Bữa nay lạnh, mặt trời đi ngủ sớm / Anh nhớ em, em hỡi, anh nhớ em...
Ở Tây phương, người ta từ bỏ thói quen sướt mướt này khá sớm. Ngay từ cuối thế kỷ 19, các nhà thơ trong nhóm Thi Sơn (Parnassians) của Pháp đã chủ trương đè nén cảm xúc và đề cao cái nhìn khách quan trong thơ; từ đầu thế kỷ 20, các nhà thơ thuộc phái Duy hình tượng (Imagism) của Anh và Mỹ đề ra một số nguyên tắc làm thơ, trong đó, về phương diện ngôn ngữ, nguyên tắc đầu tiên là không dùng tính từ, những từ, theo họ, chỉ làm nhão cảm xúc chứ không gợi ra điều gì cả; T.S. Eliot đưa ra quan niệm phi ngã trong thơ: nhà thơ không phải là người có một cá tính để thể hiện mà là người có một phương tiện đặc biệt để dùng: ngôn ngữ. Riêng ở Việt Nam, chủ nghĩa lãng mạn được du nhập khá muộn màng, từ đầu thập niên 1930, từ đó, nó cứ mãi mãi giữ địa vị thống trị trong thơ. Những thành tựu huy hoàng của Thơ Mới đã điều kiện hoá cách cảm thụ văn học của chúng ta. Ý thức thẩm mỹ của chúng ta trở thành hẹp hòi, phiến diện và cứng nhắc. Trong khi nhiều nhà thơ vẫn còn loay hoay dưới bóng của Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử... phần đông độc giả của thơ vẫn mang nguyên tâm trạng và tâm thế của thời 1932-45.
Thay đổi một cách cảm bao giờ cũng khó khăn hơn là thay đổi một cách nghĩ, do đó, nói chung, những sự thay đổi trong thơ bao giờ cũng chậm chạp và nhiều trăn trở hơn các lãnh vực nghệ thuật hoặc các thể tài văn học khác. Nói theo ngôn ngữ chính trị, không ở đâu có nhiều thành phần lạc hậu, bảo thủ và phản động như là thế giới thơ. Từ thập niên 1920, văn xuôi đã chuyển mình trong khi thơ cứ ì ạch mãi trong lối mòn. Đầu thập niên 1930, tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn ra đời được hoan nghênh tức khắc, nhưng cùng lúc, phong trào Thơ Mới xuất hiện kéo theo bao nhiêu là tiếng la ó, phản đối, phần lớn từ những người làm thơ hoặc tự nhận là yêu thơ. Cuối thập niên 1950, ở miền Nam, chúng ta làm thân dễ dàng với câu văn xuôi của Mai Thảo song đến tận cuối thập niên 1970 và không chừng đến cả hiện nay nữa, rất nhiều người trong chúng ta vẫn ngỡ ngàng trước những câu thơ của Thanh Tâm Tuyền. Sau năm 1975, ở hải ngoại, chúng ta đón nhận sự táo bạo trong truyện ngắn của Trần Vũ một cách đầy thiện cảm nhưng lại ngờ vực những cố gắng làm mới thơ của Chân Phương, Đỗ Kh… Sau năm 1986, ở trong nước, truyện dài và truyện ngắn, đặc biệt là truyện ngắn, thay đổi khá nhiều với những thể nghiệm thông minh và tài hoa của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài, riêng thơ, trừ một số ngoại lệ cực kỳ hiếm hoi, vẫn tiếp tục ầu ơ như cũ. Dường như, trong thơ, sau khi lột bỏ chiếc áo tứ thân, cho đến tận bây giờ, đa số trong chúng ta vẫn mặc hoài chiếc áo dài Le Mur, cái mốt của thời Thơ Mới. Thơ, do đó, thay vì là sứ giả của tương lai, lại biến thành một thứ viện bảo tàng chất chứa các di chỉ một thời xưa cũ, cái thời, nói như Thường Quán, trong bài “Xưa thơ”:
Xưa thơ niềm bình dị nắng trời cổ lục
Màu gió xanh câu hát níu câu hò
Chảy mãi suối nguồn núi sông uốn khúc
Nước đưa người qua bến nắng thơm tho...
...Chỗ trú của thơ là nơi nào trong tóc bỏ đuôi gà kia thầm lặng
Nắng thả rơi lên một lá trúc đào.
Buồn.
***
Chú thích:
1.  Nhà văn Bình Nguyên Lộc trả lời phỏng vấn của Nguyễn Nam Anh, Văn số 199 ra ngày 1.4.1972, tr. 12.
2. Võ Phiến (1989), Tạp bút, Văn Nghệ, California, tr. 51-59

Thứ Ba, 24 tháng 5, 2011

SOEUR SOURIRE, NỤ CƯỜI HAY NƯỚC MẮT?






Đặng Mai Lan

«Sœur Sourire» là tên của một đĩa nhạc nổi tiếng khắp thế giới vào khỏang giữa thập niên sáu mươi và cũng là tựa đề một cuốn phim Pháp-Bỉ của đạo diễn Stijn Coninx. Đây là cuốn phim thứ nhì sau « The singing Nun », một phim Mỹ của Henry Koster.
Đĩa nhạc tung ra thị trường năm 1963. Trên bìa bọc đĩa, ngòai trung tâm thu thanh, phát hành không hề có ghi tên tuổi, không cả hình ảnh của tác giả. Chỉ duy nhất hai chữ Sœur Sourire. Vì thế, SS đã trở thành biệt hiệu của nữ tu Luc-Gabriel, người sáng tác và trình bày bài hát mang tên Dominique trong đĩa nhạc này.
Sœur Sourire sinh tại thành phố Bruxelles, Bỉ quốc, ngày 17 tháng 10 năm 1933. Tên khai sinh của bà là Jeanne-Paule Marie Deckers.
Phim “The Singing Nun” ra đời năm 1966, với diễn viên Debbie Reynolds trong vai người nữ tu, hẳn chỉ tôn vinh về tâm hồn nghệ sĩ, cái lạ lùng độc đáo của một Dì phước nhạc sĩ kiêm ca sĩ như tựa đề của cuốn phim. Nhưng phim Soeur Sourire đã vẽ lại cả một cuộc đời. Từ thời niên thiếu tối ám buồn bã cho đến ngày nhắm mắt với những thảm cảnh oan ức của người nữ tu này. Do Cécile De France, nữ diễn viên gốc Bỉ sống tại Pháp thủ diễn vai chính.
Theo phim bản thì Jeannine Deckers lớn lên trong một gia đình sống bằng nghề buôn bán. Cô đã từng theo học trường mỹ thuật và ngòai mơ ước trở thành một giáo sư hội họa. Cô gái với một ngoại hình khô khan, tính tình ngang bướng như một đứa con trai, lại có nhiều thuộc tính nghệ sĩ đã ôm ấp trong lòng nhiều mơ ước khác. Nhưng dưới sự áp đặt của một người mẹ khó khăn độc đóan. Những ước muốn ấy không thể thành đạt. Jeannine lại không muốn sống bình thường, lập gia đình, nối nghiệp song thân với cửa tiệm bán bánh mì, nguồn lợi tức nuôi sống cả gia đình bốn người. Cha, mẹ và đứa em gái. Jeannine đã thóat ly bằng cách xin vào tu ở tu viện Fichermont, tỉnh Waterloo, một tu viện thuộc dòng Dominicaines. Thuở nhỏ, được học hành dậy dỗ trong một trường Công giáo. Ý thức, niềm tin được rèn luyện hay có một tiếng gọi thiêng liêng thầm kín nào trong tâm hồn của cô « garçon manqué » này hay không, khi cô quyết định khóac trên người chiếc áo chòang trắng và ẩn mình trong những bức tường che khuất đời sống huyên náo bên ngòai? Nhưng chắc chắn đấy cũng là một điều hợp lý để Jeannine thay đổi cuộc đời. Trốn chạy những xung đột xảy ra hàng ngày với người mẹ nghiêm khắc, cổ hủ. Cho dù cuộc sống và những kỷ luật nghiêm nhặt ở tu viện không hơn gì nơi cô đã từ bỏ. Jeannine không có một lối đi nào khác.
Cô Jeannine vào tu viện nhưng không quên mang theo cây đàn guitare, một thứ đồ vật không thể thiếu trong đời sống của cô. Và âm nhạc là những liều thuốc bổ, là niềm vui cho cô nhiều sinh lực để sống, vượt qua mọi thử thách cực khổ trong giai đoạn đầu khấn nguyện. Ngòai những giờ cầu nguyện có thể coi như là khỏang khắc được ngơi nghỉ. Các sinh họat của nhà dòng đã chiếm hết thời gian nhưng Jeannine vẫn cố gắng, âm thầm sáng tác những ca khúc và đôi khi còn lẩm nhẩm hát ngay trong những buổi đọc kinh cầu nguyện chung. Dominique là bản nhạc mà Dì phước Luc-Gabriel sọan ra như một tặng phẩm ca ngợi Dominique De Guzmán, người sáng lập dòng Dominicains. Tuy lén lút nhưng rồi bài hát cũng được phổ biến nhân dịp Jeannine phụ trách hướng dẫn những thanh thiếu niên viếng thăm nhà dòng. Trong sinh họat văn nghệ chung với họ, cô đã hát lên bài ca đó. Ngòai những tràng pháo tay ca ngợi của đám trẻ. Bài hát, những lời lẽ và giọng ca mạnh mẽ truyền đạt sự vui tươi. Tiếng hát không những đã được một Linh mục thường vào làm lễ cho nhà dòng lưu tâm vì ông cũng có mặt trong ngày này, Jeannine còn thuyết phục được những vị nữ tu lạnh lùng nghiêm nghị thưởng thức và cùng hát chung với mình. Vị Linh mục có ý muốn phổ biến giọng ca và những bài nhạc thánh ca đặc biệt đó đến đời sống bên ngòai. Cũng là một cách giúp thêm ngân quỹ cho nhà dòng. Ông đã trình bày với bề trên. Qua bao phản đối, nhưng cuối cùng cũng được Công Đồng Vatican 2 chấp nhận cho phòng thu thanh Philip, một trung tâm tên tuổi ở Bruxelles thời đó thu vào đĩa nhựa. Tuy bài hát mang chủ đề tôn giáo nhưng nhạc điệu sống động vui tươi đã gây một tiếng vang trong giới thưởng thức âm nhạc. Một sự thành công đáng kể với số đĩa bán ra cả gần 3000.000 bản. (Dominique, nique, nique…Chữ nique của những năm tháng đó không mang ý nghĩa gì, chỉ là cách lập láy lại của khúc ca, nhưng vào thời điểm này nó lại là một tục từ). Sự ngưỡng mộ không chỉ dành cho những ngừời có đạo. Bài ca đã đi qua biên giới của mọi tôn giáo. Đi khắp năm châu và được dịch ra nhiều thứ tiếng. Nhạc phẩm Dominique đã đưa người nữ tu lên đỉnh cao danh vọng nhưng cũng lại là cái nấc thang đầu tiên đẩy cô xuống vực sâu địa ngục ngay khi cô đặt bút ký giao kèo về bản quyền với trung tâm Philip. Là một phụ nữ có cá tính mạnh mẽ, cương quyết, ít chịu khuất phục trước những bất đồng đối nghịch nhưng lại rất ngây thơ hời hợt trong chuyện ký kết làm ăn này. Jeannine Deckers đã thỏa thuận giao hết những lợi nhuận thu thập từ đĩa nhạc « Soeur Sourire » cho nhà dòng Fichermont và trung tâm sản xuất Philip. Phải chăng ánh sáng danh vọng, ngọn lửa ao ước âm ỉ đã được cháy sáng rực rỡ, thiêu đốt hết ý thức, làm mù lòa lý trí của Jeannine ? Hay với cương vị của một nữ tu, chỉ có đức tin Thiên Chúa là ánh sáng cứu rỗi, cứu rỗi hết mọi thứ trên trần gian. Và cùng với đức vâng lời, khi đã khấn hứa phụng sự, hiến đời vào nước Chúa cùng những khổ hạnh, Dì phước Luc-Gabriel đâu còn để tâm tới tiền tài lợi lộc?
Danh tiếng của Jeannine lại càng vang xa hơn khi Ed Sullivan, người điều khiển một chương trình trên đài truyền hình Hoa kỳ đã đích thân tìm tới tu viện Fichermont mời Jeannine thu hình cho chương trình của ông, được thành lập năm 1948. Vào thời điểm ấy, ngành truyền thông bằng hình ảnh hãy còn mới mẻ nên những chương trình văn nghệ của đài truyền hình rất hiếm hoi. « Show » của Ed Sullivan lại là một show nổi tiếng, đã chinh phục vô số khán giả vì chỉ tìm kiếm, giới thiệu những ngôi sao tên tuổi như Elvis Presley, Les Beatles, les Stones…v…v…
Trong valise hành lý mang vào tu viện, cô Jeannine có cất giấu một tấm hình của danh ca Elvis Presley. Hẳn đây là thần tượng của cô nên có thể nói rằng khỏang thời gian này là thời gian đẹp nhất trong đời của người nữ tu trẻ vì bản nhạc của cô đã đứng hàng đầu, liên tục 4 tuần lể trong chương trình nhạc « Hit-Parade ». Soeur Sourire đã đánh bật nhiều tên tuổi trong đó có cả ông vua nhạc rock này.
Cùng với năng khiếu, trình độ hội họa sẵn có, Jeannine đã đưa ra nhiều sáng kiến, làm ra nhiều tác phẩm mỹ thuật cho tu viện trong những dịp tổ chức lễ lạc. Nên vào thời gian đó, người nữ tu đã được phép ghi danh học lại môn hội họa ở một trường đại học Công giáo tại Louvain. Kể như cô đang ngược bước, nhích từng bước gần lại với cuộc sống đời thường. Và dường như những câu hỏi tra vấn về Đạo và Đời đã được đặt ra trong lúc này. Những câu hỏi chín chắn hơn lúc Jeannine rời bỏ gia đình. « Aimer Dieu et fais ce que tu veux », yêu Chúa và làm những gì con muốn. Một câu nói của Thánh Augustin, cũng là một lời khuyên cho Jeannine.
Jeannine lại rời bỏ tu viện giữa năm 1966.
Người nữ tu đã cởi áo dòng và tiếp tục viết nhạc, thỏai mái hơn, tự do hơn. Nhưng sau Dominique thì những bài ca khác chừng như không còn thuyết phục được người nghe nữa. Jeannine lại cho ra mắt một album khác với danh xưng là « Luc Dominique » vì cô không còn được phép dùng lại tên SS danh tiếng mà hãng đĩa Philip đã thực hiện. Một trong những bài hát của album mới có một ca khúc mang tên « La Pilule D’Or », cũng gây một chấn động lớn, nhưng là một scandale bởi những lời lẽ trong ca khúc này gần như một sự cổ vỏ về phương thức ngừa thai, sự văn minh của khoa học mà tự nó đã như một mũi kéo nhọn làm rách tọac tấm lụa óng ánh đầy những đường thêu nhân bản, đạo đức mà Giáo hội đã đề ra. Bài hát lại được sáng tác từ một vị tu xuất thì có khác nào một sự nhạo báng.
Vì lý do đó hay còn nhiều lý do khác nữa… Kể như Jeannine đã thực sự lăn xuống bờ địa ngục sau khi cởi trả áo tu. Sự ái mộ của khán thính giả không còn nữa. Tiếng vang của Dominique dường như cũng chìm vào quá khứ. Ngôi sao « Sœur Sourire » đã tắt. Dì phước Sourire đã chết rồi. Elle est morte Sœur Sourie, có một bài hát Jeannine đã viết ra với những lời thú nhận như thế.
Đời sống thực sự khó khăn. Cùng với những đồng tiền ít ỏi thưa thớt kiếm được từ các đĩa nhạc, cô dạy thêm đàn guitare và nhiều việc lặt vặt khác để sống. Jeannine đã tìm gặp lại người bạn gái thân thiết từ thời đi học và sống chung như một đôi tình nhân đồng tính. Cuộc đời của Jeannine, có thể nói rằng người bạn gái mang tên Annie Pécher này là một điểm tựa an tòan êm ả nhất. Họ cũng có thể sống yên lành bên nhau với lợi tức thu nhập của cả hai nếu như Jeannine không bị Sở thuế vụ truy tìm, kêu gọi phải thanh tóan một số tiền kếch xù, thuế lợi tức đã được tính trên số lượng đĩa nhạc « Sœur Sourire » bán ra thị trường từ năm 1963. Trung tâm phát hành Philip phủi tay dù đã hưởng lợi lộc nhiều hơn nhà dòng Fichermont rất nhiều. Sở thuế vụ bịt mắt làm ngơ trước những phản kháng, trần tình của Jeannine. Ban quản trị nhà dòng Fichermont có dẫn chứng những điều tốt lành mà họ đã giúp đỡ Jeannine khi cô rời tu viện. Cô Jeannine hoàn tòan thua cuộc.
Hai người phụ nữ hàng ngày đã chống chọi đương đầu với vấn nạn bằng những viên thuốc hòa rượu. Họ đã sắp xếp một cái chết chung và từ giã cuộc đời vào năm 1985. Họ được Giáo xứ địa phận Wavre chấp nhận an táng chung trong một nấm mồ.
Những ngày cuối cùng của cuộc sống thật ngòai đời, đôi bạn ấy đã sống như thế nào?
Trong phim « Sœur Sourire », nhân vật Jeannine Deckers và Annie Pécher do Cécile De France và Sandrine Blancke diễn xuất. Đạo diễn Stijn Coninx không cho khán giả nhìn thấy niềm tuyệt vọng nơi họ. Cũng không có nhiều cảnh quay luyến ái. Hai người đàn bà quấn quýt bên nhau như hai chị em. Họ mừng vui khi nghe tiếng chuông cửa và nhìn thấy bóng dáng người đưa thư. Họ dành nhau giằng lấy phong bì có con dấu của tòa án. Một văn thư, một trác lệnh. Một thời hạn cuối cùng cho số nợ thuế khổng lồ mà Jeannine phải giải quyết bằng cách nào đó. Đồng nghĩa với sự quyết định mà họ đang chờ đợi. Chờ lên đường, chờ chết. Cảnh đẹp nhất là họ bình thản đốt hết từng lá thư nợ nần oan nghiệt. Họ viết thư tuyệt mệnh. Xếp gọn ghẽ những đồ vật để lại cho người thân. Nắn nót ghi tên từng người trên các gói quà đặt trước lò sưởi như thể đang chuẩn bị quà tặng cho đêm lễ Giáng sinh. Và cả hai chậm rãi kéo kín những tấm mành cửa sổ cho tòan thể bên trong căn nhà lẫn vào bóng tối. Một lên đường bình thản.
Trong những gói quà, thư từ để lại dường như Jeannine chỉ viết thư cho người em gái. Cô Jeannine cứng đầu, dễ nổi lọan không hề nghĩ đến mẹ trong những giờ phút cuối của cuộc đời. Người mẹ, mà suốt cuốn phim không một cử chỉ, một lời nói nào nhẹ nhàng dành cho cô con gái. Trừ lúc bà tìm đến tu viện thăm Jeannine, mang theo những đĩa nhạc Sœur Sourire của những người quen nhờ bà mang đến xin chữ ký tác giả. Cô không thể tiếp tục ăn hết chiếc bánh ngọt có chữ Dominique bằng kem mà cha cô đã làm mang cho con gái khi Jeannine biết rõ mục đích của cuộc viếng thăm.
Jeannine cần tình cảm, cần sự thương yêu. Cô muốn có một đời sống bình thường như bao người. Cô đã nổi giận và xô đẩy Annie khi người bạn gái tiến gần, tỏ cử chỉ muốn hôn cô. Khi quyết định vào dòng tu, lúc đến chia tay người bạn trai cùng lớp, Jeannine lại cuồng bạo cưỡng hôn anh bạn này. Và với những thất bại, trước khi quyết định quay lại tìm lại Annie, sống chung với nhau như tình nhân, công khai sự đồng tính từ lâu chôn dấu. Jeannine cũng thử trút bỏ hết quần áo, cưỡng dâm người đàn ông có vai trò như một ông bầu show đưa cô đi hát đó đây. Như thể cô biết mình đã chết, sẽ chết sau những thử thách đó nên phải nếm hết những mùi vị của đời sống chưa từng.
Nhưng đó chỉ là phim, những hình ảnh đầy nghệ thuật được dàn dựng, thêu dệt thêm cho một cuộc đời.
Trước ngày những thước phim Sœur Sourire được mang vào các rạp ciné. Cuộc đời Jeannine Deckers lại được hồi sinh trên các tạp chí và trên các trang báo điện tử. Những nguồn tin cho biết, bà thực sự rớt xuống đáy địa ngục kể từ ngày 12 tháng 3 năm 1974, khi sở thuế vụ Wavre đã lệnh đòi Jeannine phải đóng một số tiền là 900.000 francs Belges (22.500 euros) mà bà không thể nào trả được, số tiền lại cứ thế tăng theo mỗi năm. Ngòai sở thuế, bà đã gửi cả đơn lên bộ tài chính xin giúp đỡ nhưng không một hồi đáp nào cho sự yêu cầu của bà. Suốt những năm dài, tinh thần khủng hỏang trầm trọng. Sức khỏe bà hòan tòan kiệt quệ vì đã dùng quá nhiều rượu cùng với những lọai thuốc an thần, phương cách duy nhất để bà tìm quên. Hai người bạn chẳng còn thiết tha gì đến đời sống, đã cùng tự hủy mình bằng 150 viên thuốc Temesta và Depronal vào ngày 29/3/1985.
Nhiều năm trước đó, ngoài phim ảnh, đã có vài cuốn sách viết về thân thế của bà. Nhưng hai tác phẩm mới nhất vừa cho ra mắt độc giả trong tháng 4 năm nay là cuốn « Sœur Sourire » của Catherine Sauvat và «Sister Sourire, une pure tragédie» của Claire Guezengar. Trong tạp chí Nouvel Observateur số 2305-8/1/2009 Sophie Delassein có viết bài giới thiệu tác phẩm «Sister Sourire, une pure tragédie».
Nhà văn Claire Guezengar đã viết cuốn sách này với dạng tự truyện. Cuốn sách được giới thiệu trên nhiều tạp chí tên tuổi ở Pháp và được đón nhận với đầy đủ khen chê của độc giả trên nhiều web site.
Claire.G cho rằng «Nếu như Jeannine Deckers được sinh ra đời chậm hơn mười lăm năm, hẳn sẽ trở thành một cô Hippie hơn là một nữ tu.»
Nếu trở thành một Yé Yé của phong trào Hippie thì cuộc đời, định mệnh của Jeannine có tốt hơn hay không? Nhưng chắc chắn một điều là cũng phải có một đức tin, lòng yêu mến Chúa bà mới sáng tác được những khúc ca mang màu sắc tôn giáo như thế.
Jeannine Deckers từ giã cõi đời tính đến nay đã được... Một tài danh âm nhạc có tiếng mà không có miếng. Đã bức tử vì sự thành công, tài năng của chính mình.