Thứ Ba, 28 tháng 6, 2011

THÔNG BÁO

THÔNG BÁO
Huấn luyện Linh Hoạt Viên

Thời gian: Dự định từ chiều ngày 18 đến sáng 22 tháng 07 năm 2011
1. Mục tiêu
Xuất phát từ mục tiêu lớn là tạo ra những nhóm người trẻ có khả năng tổ chức các sự kiện mang màu sắc Tin Mừng đặc trưng. Ban Mục vụ Giới trẻ sẽ tổ chức khóa huấn luyện về Linh Hoạt Viên. Chương trình này nhằm trang bị thêm những kỹ năng cơ bản về sinh hoạt và hoạt động cộng đồng cho một lãnh đạo của giới trẻ (Youth Leader), một linh hoạt viên, một nhà tổ chức sự kiện công giáo.
2. Phương pháp
Với tiêu chí “học để làm được”, chương trình rất chú trọng vào phần thực hành cho học viên. Phần lý thuyết được cô đọng nhằm giúp học viên có thể nắm được những phần cơ bản để thực hành.
3. Nội dung học
- Phương pháp tổ chức.
- Sinh hoạt trò chơi.
- Linh hoạt nhóm cầu nguyện, nhóm thảo luận,...
4. Thành phần ban giảng huấn
Quý Cha, Thầy Dòng Don Bosco Đà Lạt
- Cùng nhiều anh chị em Cộng tác viên đầy năng động và nhiệt huyết.
5. Đăng ký và học phí
Ghi danh và gởi danh sách học viên (từ 2 đến 4 người) để ban tổ chức xin phép chính quyền. Đăng ký qua email: tranlienson@yahoo.com hoặc điện thoại: 0905096007.
Chi phí: Tiền ăn (4 bữa sáng, 3 bữa trưa, 4 bữa tối) + tài liệu + linh tinh (hình, nước uống) 220.000 đồng/1 học viên
Ban MVGT giáo phận Qui Nhơn
Trưởng Ban
Lm. Antôn Pađua Trần Liên Sơn

v³v

THÔNG BÁO
Khóa huấn luyện Ban chức việc
giáo phận 2011

Ban giáo dân giáo phận sẽ tổ chức khóa huấn luyện Ban Chức Việc cấp giáo phận từ 13/07 đến 15/07/2011.
Địa điểm: Tòa Giám Mục Qui Nhơn.
Thành phần tham dự: chức việc, mỗi giáo xứ 4 người.
Nội dung chính yếu:
- Học hỏi Quy chế Hội Đồng giáo xứ
- Học hỏi về vai trò người chức việc cộng tác với cha sở trong mục vụ bí tích (rửa tội, hôn phối và xức dầu)
Kết thúc bằng việc tham dự Thánh lễ kính Thánh Anrê Kim Thông – Bổn mạng các chức việc, được tổ chức tại Gò Thị
Xin quý cha sở lưu ý để đăng ký cho các chức việc tham dự:
cha Phêrô Võ Thanh Nhàn, nhansongcan@yahoo.com

v³v
THÔNG BÁO
Đào tạo Giảng Viên Giáo Lý 2011 – 2012

Trong tuần tĩnh tâm linh mục năm nay, ngày 15/03/2011, Ban Giáo Lý giáo phận đã có cuộc họp định hướng cho việc đào tạo giáo lý viên trong thời gian tới. Chúng con đã có trình bày chương trình đào tạo giáo lý viên tại chỗ trong buổi hội thảo 16/03/2011 rồi. Nay chúng con xin được trình bày chi tiết để đi vào áp dụng thực hành.
Năm 2008 và 2009 đã tổ chức 2 khóa đào tạo giáo lý viên tập trung tại giáo phận đầu tháng 8. Mỗi khóa chỉ dung nạp được khoảng 120 học viên, đang khi số giáo lý viên trong toàn giáo phận nay đã lên hơn 800. Hơn nữa, khóa học chỉ vỏn vẹn trong thời gian ngắn là 3 ngày nên không thể đáp ứng nhu cầu nâng cao kiến thức giáo lý và kỹ năng sư phạm cho các giáo lý viên.
Rút kinh nghiệm, việc đào tạo tập trung sẽ nhắm đến khả năng tổ chức và điều hành cho một số giáo lý viên. Còn việc đào tạo tại chỗ sẽ nhắm đến kiến thức và kinh nghiệm sư phạm giáo lý cho tất cả các giáo lý viên tại mỗi giáo xứ. Chúng con thấy rằng việc đạo tạo tại chỗ là cần thiết và mang lại hiệu quả hơn. Vì thế, Ban Giáo Lý chúng con đã thống nhất và đưa ra quyết định đào tạo giáo lý viên tại các giáo xứ thay cho việc đào tạo tập trung như những năm trước. Chương trình đào tạo tại chỗ được tiến hành như sau:
-   Về tài liệu học tập: Chúng ta sẽ bắt đầu với bộ sách “Cao Đẳng Giáo Lý” của Lm. Aug. Hoàng Đức Toàn (giáo phận Ban Mê Thuột). Bộ sách này đã được gởi tặng đến tất cả Quý cha và các Giáo lý viên trong giáo phận trong dịp tĩnh tâm năm vừa qua. Bộ sách này được chọn vì cuối mỗi tập đều có phần câu hỏi trắc nghiệm với đáp án đi kèm, giúp cho học viên dễ nắm bắt trong quá trình học.
-   Nội dung bộ sách: Phần tín lý và các bí tích (Bộ sách gồm 9 tập)
-   Số lượng bài dạy: Trong bộ sách “Cao Đẳng Giáo Lý” có tất cả 44 chương nhưng trong phần Kitô học có 3 chương dài nên phân ra mỗi chương thành 2 bài. Vậy tổng số bài dạy là 47 bài tương đương với 47 tuần. Học viên học hết chương trình này và thi đạt kết quả sẽ được cấp chứng chỉ “Cao Đẳng Giáo Lý 1”. Chúng con sẽ cố gắng tìm các tài liệu về phần luân lý, phần cầu nguyện cũng như kỹ năng dạy giáo lý và soạn câu hỏi trắc nghiệm đính kèm để tiếp tục cho việc đào tạo các năm sau, để cấp chứng chỉ cao đẳng giáo lý 2 và 3.
-   Thời gian khai giảng khóa học: Tất cả các giáo xứ trong giáo phận bắt đầu khai giảng lớp đạo tạo giáo lý viên tại giáo xứ của mình từ ngày 03/07/2011 (Chúa nhật thứ 14 thường niên)
-   Thời gian đào tạo: Trong vòng 1 năm (03/07/2011 – 01/07/2012)
-   Thời gian tổ chức thi: Chia ra 3 kỳ thi tại giáo xứ và 1 kỳ thi cuối khóa tại giáo hạt để cấp chứng chỉ. Cụ thể:
+ Thi lần 1: Hết 15 bài đầu tiên sẽ nghỉ một tuần để ôn tập và thi vào tuần kế tiếp (Thi tại giáo xứ)
+ Thi lần 2: Hết 17 bài tiếp theo sẽ nghỉ một tuần để ôn tập và thi vào tuần kế tiếp (Thi tại giáo xứ)
+ Thi lần 3: Hết 15 bài cuối cùng sẽ nghỉ một tuần để ôn tập và thi vào tuần kế tiếp (Thi tại giáo xứ)
+ Kỳ thi cuối khóa: Tổ chức thi cuối khóa tại giáo hạt để cấp chứng chỉ. Sau khi đã học xong 47 bài, xin Quý cha cho các giáo lý viên ôn tập trong vòng 3 tuần để chuẩn bị kỳ thi cuối khóa. Ngày thi cuối khóa tại giáo hạt để cấp chứng chỉ sẽ được Ban Giáo Lý giáo phận thông báo sau.
- Người ra đề thi: Trong 3 kỳ thi tại giáo xứ, cha sở sẽ trực tiếp ra đề thi. Kỳ thi cuối khóa sẽ do Ban Giáo Lý Giáo Phận ra đề.
-   Giáo viên đứng lớp: Cha sở hay Cha phó hoặc Quý thầy – Quý soeurs (Cha sở có thể nhờ các cha khách dạy để tăng thêm sự phấn khích cho các GLV.)
-   Cấp chứng chỉ “Cao Đẳng Giáo Lý 1”: Chứng chỉ này do Ban Giáo Lý Giáo Phận cấp. Ngoài việc cấp chứng chỉ, những giáo lý viên xuất sắc trong quá trình học tập và đạt kết quả cao trong kỳ thi cuối khóa sẽ được khen thưởng.
Chương trình này kết quả nhiều hay ít là tùy thuộc quyết tâm thực hiện của Quý cha sở và cha phó. Vì thế Ban giáo lý giáo phận chúng con tha thiết ước mong Quý cha sở - Cha phó tích cực hưởng ứng và tổ chức đào tạo giáo lý viên trong giáo xứ của mình theo chương trình này để công cuộc giáo lý toàn giáo phận được tiến nhanh và tiến đều.
T.M. Ban Giáo Lý Giáo Phận
Trưởng Ban Huấn Luyện
Lm. Phaolô Nguyễn Văn Khiêm
Lưu ý:
·           Bộ sách Giáo Lý Cao Đẳng khi gởi đến các giáo xứ dịp tĩnh tâm linh mục vừa qua, một số nơi có thừa quyển này thiếu quyển khác. Xin Quý cha vui lòng kiểm tra lại và cho chúng con biết sớm.
·           Chúng con gởi đính kèm Thời Khóa Biểu Đào Tạo để Quý cha áp dụng việc dạy theo đúng chương trình đào tạo đã đưa ra.

Thứ Hai, 27 tháng 6, 2011

NÊN HIỂU THẾ NÀO VỀ TIẾNG CƯỜI THƯỢNG ĐẾ


Vương Trí Nhàn

Còn gì khổ hơn trong những cuộc trò chuyện tiếp xúc hàng ngày chúng ta luôn gặp phải những bộ mặt đưa đám. Ngược lại thật dễ chịu khi được sống bên cạnh những người vui vẻ. Thế nhưng chung quanh tiếng cười cũng có thể có dăm bảy cách hiểu...
Một chút hư vô giả tạo
Những cuộc tranh luận nho nhỏ là một bộ phận trong sinh hoạt tinh thần nói chung của con người hiện đại. Theo lẽ thông thường sau một hồi bàn cãi thể nào cũng có kẻ thua người được, người kém thế hơn nếu có đầu óc phục thiện hẳn phải nghiêm chỉnh nhìn nhận chỗ kém cỏi của mình. Đằng này ở ta những người thua cuộc có một lối thoát khỏi thế bí rất lạ. Là lật ngược câu chuyện, coi mọi việc chẳng qua là trò đùa và cười, cười lấy được. Tiếng cười ở đây là một thứ màn ngụy trang, một cách lấp liếm cốt quên mọi chuyện cho nhanh, thực chất là hành động của con đà điểu rúc đầu vào cánh, lảng tránh tất cả. Đôi khi lại thấy lối cười khẩy, ra cái điều đây chỉ là chuyện vặt ta không thèm chấp, cười để làm nhòe câu chuyện trong một màn sương hư vô. Nó tạm thời gỡ cho người thua cuộc đỡ mất thể diện, thậm chí còn làm cho anh ta có cái vẻ sang trọng hơn người, song thực chất cuối cùng thế nào thì cũng chẳng thoát khỏi mắt thiên hạ.
Có nên biến tất cả thành trò đùa?
Trong một đoạn trước, chúng tôi đã bàn qua tới cái cách của một số người, nói như Nguyễn Văn Vĩnh, là gì cũng cười. Những tiếng cười mà Nguyễn Văn Vĩnh miêu tả thường mang tính cách thụ động và là một lời thú nhận về sự bất lực mà người ta không giấu nổi khi không biết nên có thái độ thế nào trước đời sống.
Nhưng còn một loại gì cũng cười khác, người ta chủ động cười, muốn dùng tiếng cười hóa giải tất cả. Có thể lấy một chuyện đã quá xưa để liên hệ:
Các sử gia thời phong kiến ở ta xưa vốn tiết kiệm chữ nghĩa ít khi nói về tình cảm cá nhân của các nhân vật lịch sử, nhất là trong chuyện vui đùa. Vậy mà họ vẫn phải dành cho Lê Long Đĩnh (tức Lê ngọa triều) một ít dòng ngoại lệ. Theo cách trình bày của Khâm định Việt sử thông giám cương mục, thì ông vua chết trẻ này (sinh 985, mất 1009) có lẽ là vị vua hay cười nhất trong lịch sử Việt Nam. Nhiều hành động của vua được miêu tả chỉ có một chủ đích là mua vui: Sai một gã phường chèo chuyên lóc thịt người có tội rồi bảo rằng nó không quen chịu đau và "cười ha hả"; bắt tù binh trèo lên ngọn rồi ở dưới chặt cây, thấy cây đổ thì "cười khanh khách" (Chữ trong ngoặc là lấy nguyên văn từ cuốn sách nghiêm túc đã dẫn). Cái sự thèm cười của vua phát triển đến mức Khâm định Việt sử thông giám cương mục còn kể "mỗi khi coi chầu, thể nào nhà vua cũng sai những kẻ khôi hài đứng hầu ở hai bên, nếu có ai nói gì thì chúng liến láu nói theo mà cười ồ, để làm át và đánh lạc những tiếng tâu bày việc nước của các quan". Nếu những tiếng cười nói trên ít nhiều có mang những nét bệnh hoạn, thì cái cười cuối cùng kể ra ở đây phơi bày một quan niệm sống, một trình độ của văn hóa trị nước mà nhà vua lúc ấy là kẻ đại diện. Dù có thể là Lê Long Đĩnh không có ý thức, song suy cho cùng, qua cái việc cười giễu cả những chuyện nghiêm chỉnh như thế này, nhà vua dường như muốn bảo rằng không có cái gì trên đời là quan trọng, cái gì cũng có thể mang ra làm trò đùa, kể cả những việc liên quan đến vận mệnh của đất nước. Cái bệnh thích cười như thế không ai có thể thương được!
Liệu có thể xem là những kỳ tích?
Từ bao đời nay, nhu cầu về tiếng cười vẫn là một nhu cầu chính đáng. Bởi lẽ vậy mà văn học dân gian nước nào thường cũng có một bộ phận gọi chung là truyện cười, riêng ở nước ta người xưa còn sáng tạo nên những truyện Trạng với một nhân vật xuyên suốt lấy chuyện chọc ghẹo thiên hạ cho mọi người vui làm lẽ sống. Sở dĩ người xưa cười nhiều như vậy có lẽ là vì đời sống hàng ngày đã khổ quá, trước những tai họa tự nhiên và xã hội, con người ta nhiều phen bất lực không có cách nào đề kháng, phải lấy tiếng cười để giải tỏa mọi ẩn ức. Suy cho cùng, đó là chính là một thứ biến tướng của phép thắng lợi tinh thần không ai bảo ai song đã lây truyền từ đời nọ sang đời kia, và tuy không được định danh đàng hoàng, song ra đời còn sớm hơn sự áp dụng còn uyển chuyển hơn ngón võ của chú AQ bên nước Tàu mà ngày nay nhiều người vẫn ham đọc. Có điều, gần đây một số người có xu hướng tuyệt đối hóa những tiếng cười này và đề cao chúng như một chiến công trên phương diện tinh thần. Mấy năm nay, các loại sách ghi chép tiếng cười dân gian là một món kinh doanh có lãi và được xuất bản thường xuyên, ví dụ như truyện Trạng Lợn. Trong khi vẫn kể toàn chuyện ông Trạng ngẫu nhiên may mắn ra sao, nói liều gặp thời như thế nào thì một trong những cuốn sách loại này được đặt tên khá mĩ miều là Kỳ tích Trạng Lợn, với hàm ý biểu dương vô điều kiện ông Trạng dân gian. Thật chưa bao giờ hai chữ kỳ tích lại bị lạm dụng đến thế.
Tiếng cười đối lập hay tiếp tục sự suy nghĩ?
Khi ca ngợi tiếng cười, một số người gần đây trích dẫn lại câu tục ngữ Do Thái mà nhà văn Pháp gốc Séc M. Kundera dẫn ra nhân bàn về tiểu thuyết: Con người suy nghĩ còn Thượng đế thì cười (Milan Kundera Tiểu luận, Nguyên Ngọc dịch, NXB Văn học, 2001). Người ta cố ý gán cho câu tục ngữ tuyệt diệu ấy một nội dung thực dụng: cái cười là cao hơn sự suy nghĩ, mọi sự lao tâm khổ tứ đều vô bổ chẳng hề mang lại một lợi ích cụ thể, vậy tốt hơn hết là cười cho xong, cười thoát thân, cười để khỏi bận tâm trước chuyện đời rắc rối. Nhưng liệu có nên dừng lại ở một cách hiểu theo nghĩa đen như vậy? Theo tôi hiểu, suy nghĩ là cả một đặc ân mà Thượng đế dành riêng cho con người, trong khoa học nhân văn có một từ riêng mang tên homo sapiens để chỉ một giai đoạn phát triển quan trọng mà loài người đạt tới, kể từ đó nhân loại mới thực sự trưởng thành. Mặc dù không bao giờ đạt tới chân lý tuyệt đối, song nhờ liên tục suy nghĩ, con người vẫn ngày càng tiến tới trong sự nhận thức đời sống. Có điều trong khi sống với niềm tin "Tôi tư duy vậy tôi tồn tại", thỉnh thoảng họ cần một chút nghỉ ngơi vui vẻ trước khi đi tiếp và tiếng cười được đề cao là với nghĩa ấy, bản thân tiếng cười của Thượng đế nói ở đây cũng đầy chất trí tuệ. Nên chú ý thêm là trong kho từ vựng của Kundera có một từ mà thường người ta để nguyên không dịch, đó là kitsch. Theo ông, kitsch là cái nhu cầu tự nhìn mình trong tấm gương dối trá, nó cũng là thái độ của kẻ muốn tự làm vui bằng bất cứ giá nào mà Kundera không bao giờ chịu nổi. Thành thử nếu cho rằng câu tục ngữ trên được đưa ra như lời kêu gọi vứt bỏ tư tưởng và thay bằng tiếng cười dễ dãi rồi tự cho rằng như thế là mình đã đạt tới sự hiền minh của Thượng đế, thì đó không chỉ là đi ngược với trí tuệ dân gian mà còn đi ngược với chính Kundera nữa.

Thứ Bảy, 25 tháng 6, 2011

PHỤ NỮ VIỆT NAM - VỚI CÂU ĐỐI TRONG ĐỜI




Lê Xuân Quang
Trong lịch sử văn chương nước nhà không thiếu những nam nhân ra đề, đối lại, tạo ra biết bao nhiêu câu đối, thơ đối lừng danh, được dân gian thuộc lòng truyền tụng rồi ghi vào sử sách.
Thế nhưng giới “hồng quần” tham gia trò chơi chữ này lại quá ít. Nếu lục lại trong thư cảo của giai đoạn trung cận đại, chúng ta chỉ tìm được 2 nữ sĩ Đoàn Thị Điểm và Hồ Xuân Hương, có những câu đối, thơ đối khiến đấng mày râu đương thời và hậu thế - hôm nay phải khâm phục.
Trước tiên hãy kể về Đoàn Thị Điểm.
Theo từ điển Wikipedia: Bà Đoàn có biệt hiệu Hồng Hà Nữ Sĩ, người xã Giai Phạm, huyện Văn giang, tỉnh Bắc Ninh. Sinh dưới triều Lê (1705) cùng thời với cống Quỳnh và Đặng Trần Côn.
Đoàn Thị Điểm tư chất thông minh, học một biết mười, nổi tiếng văn chương ngay từ khi còn nhỏ. Mới lên sáu, đã học sách Hán cao tổ. Anh ruột là Đoàn Doãn Luân ra một câu đối để thử sức học của em:
Bạch xà đương đạo, Quý bạt kiếm nhi trảm chi.
Rắn trắng chặn đường, ông Quý (tên tục vua Hán cao tổ) tuốt gươm mà chém nó. (1)
Cô em đối ngay:
Hoàng long phụ chu, Vũ ngưỡng thiên nhi thán viết
Rồng vàng đội thuyền, vua Vũ trông trời mà than rằng...
Năm 15 tuổi, một buổi tối, ông Luân xuống ao rửa chân, thấy em đương soi gương bên cửa sổ, tức cảnh ông đọc vế ra:
Đối kính hoạ my, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm.
Soi gương kẻ lông mày, một chấm (điểm) hóa ra hai chấm.
Điểm là chấm, là nét vẽ, lại là tên em gái, câu nói của ông anh, có nghĩa: Soi gương vẽ mi - một nàng Điểm thành hai nàng Điểm.
Bà ứng khẩu đối ngay:
Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân
Tới ao ngắm trăng, một vầng trăng hóa hai vầng trăng.
Luân là ví mặt trăng tròn vành vạnh, lại là tên anh trai. Trăng sáng in hình xuống ao. Anh trai (Đoàn Luân) dưới ánh sáng của trăng, in xuống nước cũng thành hai ông Luân – (một trên bờ, một dưới nước).
Bấy giờ ở kinh đô có bốn danh sĩ thường được tôn là Tràng an tứ Hổ:
– Nguyễn Duy Kỳ, người Thuỷ nguyên, Kiến an;
– Trần Danh Tân, người Cổ am, huyện Vĩnh bảo, Hải dương;
– Nguyễn Bá Lân, người Cổ đô
– Vũ Toại, người Thiên lộc
Nghe danh nữ sĩ, bốn người rủ nhau tới nhà bà để so tài. Biết đây là những người háo danh, bà suy nghỉ chín chắn rồi ra một câu đối để thử tài “bốn… Hổ”:
Đình tiền thiếu nữ khuyến tân lang
Trước sân, thiếu nữ mời ăn trầu.
Tân lang là biểu tượng trầu cau, cùng âm với tân lang là chàng rể mới.
Bốn “hổ” không đối được đành lẳng lặng “chuồn”!
Theo truyền thuyết: Trạng Quỳnh cùng thời với Đoàn Thị Điểm cũng lừng danh về trí thông minh, tài đối đáp “lỡm” thiên hạ từ bé. Khi cha dẫn đến nhà thầy xin cho vào học – thầy đồ chính là cha Đoàn Thị Điểm. Thầy gọi, Quỳnh vào, xưng tên và nói mình là nho sinh muốn theo học nhưng thiếu người tiến dẫn nên không dám đường đột. Thầy đồ bảo : Anh nhận là nho sinh có lòng hiếu học, nếu quyết muốn học thì ta ra câu đối này, đối được ta sẽ cho nhập môn. Quỳnh xin vâng. Ông đồ đọc :
Thằng quỷ ôm cái đấu đứng cửa khôi nguyên.
Trong tiếng Hán, chữ Quỷ ghép với chữ Đấu, thành chữ Khôi – là khôi nguyên – (trạng nguyên). Quỳnh suy nghĩ rất nhanh rồi đáp liền :
Con mộc tựa cây bàng dòm nhà bảng nhãn.
Tiếng Hán chữ Mộc chắp với chữ Bàng thành chữ Bảng – là bảng nhãn (sau trạng nguyên). Thầy đồ khen ngợi Quỳnh nhận vào học.
Thầy có cô con gái đẹp người, đẹp nết khiến Quỳnh mê tít, chỉ tìm cách xán lại. Cô Điểm đoan trang luôn ngăn cản “ý xấu” của Quỳnh nên thường ngăn chặn Quỳnh bằng những cuộc so tài : Đối đáp. Rất nhiều cuộc thi tài bằng câu đối, Quỳnh thường bị thua. Một ngày từ phòng học Quỳnh nhìn qua cửa sổ sang phòng cô Điểm, thấy nàng vén rèm cửa sổ ngồi trước bàn. Hai cửa sổ trông thẳng sang nhau. Quỳnh mở lời tán xin qua bên ấy chơi. Điểm bảo: Nếu đối được vế này sẽ mở cửa mời qua, Quỳnh nhận lời. Điểm đọc :
Hai người ngồi hai bên cửa sổ song song
Chữ song tiếng Hán là hai, đồng âm với chữ song nghĩa là chấn song cửa sổ. Song song tiếng Hán có nghĩa là 2 cửa sổ lại đồng âm với "song song" là sóng đôi nhau. Quỳnh lại “tịt”.
Nhân một lần Quỳnh ra phố Mía trở về, khoe gặp cô gái tên Mật, ra vẻ ngầm nói: Ta đây không ”thiếu” gái theo... Nàng Điểm hiểu thâm ý của anh chàng, ”nổi tam bành”, đọc ngay vế ra :
Lên phố Mía, gặp cô hàng Mật, cầm tay Kéo lại hỏi thăm Đường..
Kéo lại là hành động khi hỏi ai đó mà họ đang bận không có thời gian tiếp, trả lời. Nhưng kéo cũng có nghĩa là đường của Mía làm thành một loại dân gian gọi là Kẹo kéo (2). Vế ra rất ”ác” , khó cả về từ ngữ và ý nghĩa, bởi vì tất cả những từ liên quan đến Mía đã được người ra vế xử dụng hết: Mía - Mật - Kéo (kẹo) - Đường. Quỳnh nghe xong vã mồ hôi mà vẫn bí… tắc - đành lẳng lặng chuồn ngay.
Một lần khác, thấy Điểm vào buồng tắm, Quỳnh lại chứng nào tật ấy, si tình đến táo tợn: Đòi vào tắm cùng. Nàng Điểm lại cho một bài học khác bằng câu vế thách đối:
Da trắng vỗ bì bạch. (câu này được diễn giải ở nhiều tài liệu, nhiều lần)
Quỳnh lại phải chào thua và…“chạy”!
Một lần giáp Tết, Quỳnh đi tới nhà thầy gặp trời mưa ướt lướt thướt. Điểm đang ngồi gói nem, lấy một đĩa mời Quỳnh ăn. Quỳnh đáp : Chả thích nem, chỉ thích giò thôi !
Câu nói ỡm ờ của tay trai lơ si tình ngầm ý: Tôi chả muốn ăn nem, chỉ muốn “ăn”… giò (đùi) – nghĩa là muốn chiếm lấy thân thể của cô gái! Đến câu này thì Điểm thực sự nổi giận, nàng suy nghĩ giây lát, bảo: Nếu đối được câu này thì muốn “ăn” gì cũng cho, đoạn đọc :
Trời mưa đất THỊT trơn như MỠ,
DÒ, MỌC, NINH, NEM, CHẢ muốn ăn
!
"Dò" (đi lò dò) đồng âm với Giò Lụa, Giò Thủ và… "giò" (đùi).
"Chả" là chẳng, lại cũng có nghĩa là thức ăn từ thịt lợn (chả nem, chả quế). Vế đối có cả "Thịt, Mỡ, Giò, Nem, Ninh, Mọc, Chả", là những món ăn ngon, qúy của bữa tiệc của dân ta, nhất là bốn món: Giò - Nem - Ninh - Mọc đã được tổng kết được đưa vào món bắt buộc của bữa tiệc linh đình (Nem Công - Chả Phượng) của giới giầu sang thời xa xưa….
Còn ở câu vế ra của nữ sĩ, các từ đã bị dùng hết. Ông Trạng tương lai đành phải chào thua và “lủi” nhanh !
Sau nhiều lần thất bại, Quỳnh căm lắm tìm cách “chơi” lại đối thủ.
Nhưng vắt óc mà không ra kế. Tình cờ nhân một tối đi qua phòng “nàng”, thấy cửa không khóa, Quỳnh nghĩ ra một trò tinh quái… hi vọng sẽ làm Nàng xấu hổ – để trả thù…
Đoàn Thị Điểm đi đâu đó trở về, tắt đèn lên giường ngủ. Chợt sửng sốt suýt rú lên vì tay sờ thấy “một vật”… cương cứng, nóng hổi – nghĩ ngay ra đó là của… người và kẻ nằm trên giường kia là ai? Nàng trấn tĩnh lại, lên giọng: Ta biết ngươi. Ta sẽ ra một vế đối, nếu không đối được sẽ mách thầy, đối được thì tha cho.
Quỳnh nhỏm dậy run rẩy xin hứa. Nàng đọc:
Trướng nội vô phong phàm tự lập
Trong phòng không có gió mà cột buồm lại dựng lên!
Sợ hết hồn, cũng may trước “cửa tử”, Quỳnh đối được ngay:
Hưng trung bất vũ thủy trường lưu.
Trong bụng không có mưa mà nước cứ chảy dài.
Sau nhiều lần quan sát, tiếp xúc, nàng Điểm thất vọng về Quỳnh… Nhân một lần thầy sai Điểm mang lễ lên chùa, Quỳnh được thầy cho theo cùng. Khi đi trên đường cái quan, thấy rặng cây xương rồng được người mới trồng nhưng khô héo, rũ gục, Điểm chi đám cây, hướng vào Quỳnh, đọc:
Cây xương rồng, trồng đất rắn, long lại hoàn long
Rồng – chữ Hán là Long.
Long – chữ Nôm nghĩa là lỏng lẻo (hỏng).
Điểm có ý bảo Quỳnh: Tính cách ngươi như vậy thì dù có học hành, có được răn dậy, cuối cùng cũng sẽ không chuyển được, hỏng cứ hoàn hỏng thôi !
Ý nghĩa của vế ra rất xâu xa, Chữ dùng hầu như đã hết, khóa chặt ở hai đầu. Trước sự chê trách của người đẹp, Quỳnh đã xuất thần đọc được vế đối – vẻ cù nhầy:
Quả dưa chuột, tuột thẳng gang, thử chơi thì thử
Thử chữ Hán nghĩa là chuột,
Thử chữ Nôm là thử xem.
Cả 2 chữ : Chuột (Nôm) – Thử (Hán) cũng đã dùng rồi. Câu đối của Quỳnh mang ý nghĩa thách thức : Ừ đấy ! Ta cứ thế mà vẫn chẳng sao đâu. Không tin hãy (thử) chờ xem !
Còn có giai thoại kể rằng khi sứ của phương bắc sang nước ta, Sau khi công việc đã xong họ đi dạo thăm thú kinh đô của nước “Man di”, nghe người dẫn đường nói : Có một tửu điếm rượu ngon, thức nhắm tốt, người chủ là một phụ nữ hay chữ. Sứ giả Bắc phương muốn đến thử tài. Bước vào quán thấy một phụ nữ xinh đẹp (thực ra bà Đoàn được “Cấp trên” bố trí sẵn trong vai chủ quán…). Sứ Tàu vào, bà tiếp khách ân cần niềm nở.
Vốn sẵn tính ngạo mạn, khinh thường dân “ngoại bang”, một “chú Sứ” – áng chừng đầu đàn về văn chương – buông câu miệt thị, thăm dò :
An Nam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh
An Nam một tấc đất, không biết bao nhiêu người cày
Câu đối vế ra mang ý nghĩa tục tĩu, xấc ngạo và chọc ghẹo (3).
Biết đây là những kẻ hợm mình, lại quyết tâm giữ thể diện cho quốc gia như “nhiệm vụ” được giao, bằng tài năng trác tuyệt, Bà Đoàn đối ngay không cần kiêng dè, nể nang:
Bắc quốc chư đại phu, giai nho thử đồ xuất
Nước Bắc (Tàu) các vị đại phu, hết thảy đều do chỗ ấy mà chui ra cả.
Câu đối đáp còn tục hơn câu ra đề – như cái tát vào mặt kẻ phàm phu tục tử vô lễ. Các Đại phu bị nhục nhưng phải tấm tắc khen văn tài của nữ chủ quán.
Bà Đoàn đã dậy cho bọn ngoại bang láo xược bài học lễ độ, lịch sự khiến chúng bị đau đến độ mất mặt mà vẫn phải tâm phục, khẩu phục. Các đấng “Mày - Râu” ngoại bang tưởng rằng đàn bà nước Nam yếu đuối, sẽ xấu hổ khi họ nhắc đến điều mà nữ nhi thường tình chi dám đối đáp trong phòng the với người đàn ông của mình.
Ai ngờ !…
Có thể nói : Hai Người phụ nữ duy nhất trong văn học Việt Nam – giai đoạn Trung cận đại – có những câu đối, thơ đối hay, hàm súc đến tuyệt vời, là : Hồng Hà Nữ Sĩ Đoàn Thị Điểm và Bà chúa thơ Nôm – Hồ Xuân Hương!
Phụ nữ trong giới quan trường giỏi như vậy đã đi một nhẽ. Nhưng phụ nữ Việt cổ trong dân gian cũng đâu có kém ai. Lấy một thí dụ được dân gian truyền tụng :
Một ngày, có hai thầy trò nhà sư – một sư Bác, một chú Tiểu – đi trên đường cái quan qua một làng thôn kia. Họ nhìn thấy một Nữ canh điền (Người thợ cầy) cùng một con trâu… cái – đang cặm cụi làm cái việc nặng nhọc (cầy ruộng) mà địa phương khác chỉ dành cho đàn ông (4). Vốn gốc là nho sinh, vẫn còn nặng lòng trần tục nên chỉ có ý khoe tài văn chương chứ không có ý miệt thị người phụ nữ nông dân, Sư Bác tức cảnh đọc:
Nhất ngưu, nhất thửa, nhất canh điền.
Chú tiểu cũng biết chữ, lại mới vừa vào chùa làm Tiểu tăng, vẫn còn đang vương vất mùi trần tục nên vui vẻ, hăng hái nối:
Nhất lôn hướng hậu, nhất lôn tiền.
Dịch nghĩa :
Một con trâu, một mảnh ruộng, một người thợ cầy
Một l… hướng về phía sau, một l… lại hướng về phía trước.
Chị Canh điền đang mồ hôi nhễ nhãi, mồm đang “Vắt” … “Đi” – dục trâu. Thấy hai vị “con Phật” có thái độ khoe khoang văn tài. Vốn là con gái một thầy đồ, cha chết, gia cảnh bần hàn nghe họ trêu trọc, chị vội “họ” trâu lại, ngẩng lên, lau mồ hôi trán, nhìn chăm chăm…
Sư Bác và chú Tiểu chột dạ sợ chị nông dân nổi sùng.
Nhưng không – nữ canh điền cất giọng từ tốn đọc vế đối của mình :
Nhất Sư, nhất Tiểu, nhất Chùa chiền
Rồi, ngừng lại giây lát…
Hai thầy trò nhà sư trố mắt nhìn, giỏng tai, chờ đợi - nghe…
Đột nhiên câu thứ hai của vế đối vút lên, vỡ oà ra ;
Lưỡng đầu chỉ Địa, lưỡng đầu Thiên !
Hai thầy trò tái mặt vội cúi gằm, bước nhanh như chạy, trong khi Nữ Canh Điền kia cười phá lên. Tiếng cười của chị mới sảng khoái làm sao !…

 Chú thích:
(1) – Theo sách Đông Chu Liệt Quốc : Hán Cao Tổ – Lưu Bang trước khi khởi binh đánh Tần Thủy Hoàng – làm chức Đình Trưởng. Một tối ông uống rượu với các bạn, nửa đêm vùng dậy đòi đi về nhà. Bạn bè khuyên không nên về vào giờ này vì phải qua con mà đường theo dư luận : Ở đấy thường có con rắn trắng thành tinh xuất hiện, gặp người là ăn thịt. Đang say rượu, Lưu Bang không nghe, cứ quyết đi. Đến giữa đường quả nhiên con rắn trắng nằm chắn lối, Lưu Bang vung gươm chém chết rắn trắng trở về nhà bình an trước sự thán phục của nhân dân trong vùng. Họ cho rằng đó là người của trời sai xuống trừ ác.
Khi Lưu Bang hiệu triệu đánh Tần Thủy Hoàng, dân chúng rủ nhau đi theo rất đông. Lưu Bang khởi nghiệp, tiêu diệt nhà Tần tiếp theo diệt “Đồng minh” Hạng Võ, lên ngôi Hán Cao Tổ… lập ra nhà Hán sau này.
(2) – Kẹo Kéo là thứ kẹo được làm từ mật mía. Kẹo nguyên dạng mầu trắng sữa, làm thành một cục rất dẻo, dai. Muốn lấy kẹo, người bán phải véo vào cục đường kéo dài ra rồi dùng kéo cắt. Tất cả trẻ em ở làng quê đều thích ăn kẹo kéo. Cứ nghe thấy người bán kẹo rao : Kẹo kéo vừa dẻo vừa dai… đây ! là bọn trẻ túa ra mua ăn…
(3) – Nhà thơ Xuân Sách đã vận dụng tích này viết về một tác gỉa – nhà Văn, trong thơ Chân dung nhà văn – của ông : Đất làng vừa một tấc/ Bao nhiêu người đến cầy/ Thóc giống còn mấy hạt/ Đợi mùa sau hẵng hay.
(4) – Tôi đã sống ở làng Đình Bảng, huyện Từ Sơn nhiều năm và công nhận hiện tượng này là có thật. Phụ nữ Đình Bảng rất đảm đang. Công việc ruộng đồng, buôn bán, làm giầu – chủ yếu do họ đảm nhiệm. các “Đức ông… chồng” thường là ở trong nhà có khi “trông con, đuổi gà” cho… vợ. Tuy vậy phụ nữ Đình Bảng cũng vẫn bị các Huyện khác của Bắc Ninh liệt vào hàng 1 trong tứ Bất, được dân đất Kinh Bắc tổng kết thành câu ca :
Bất giao – Phù Lưu, hữu
Bất Phu – Đình Bảng, thê
Bất Ẫm – Đồng Kị, thủy
Bất Thực – Cẩm Giang, Kê.
(Phù Lưu, Đình Bảng, Đồng Ki, Cẩm Giang là 4 làng nằm xung quanh Đình Bảng - Từ Sơn. Tất nhiên đây là câu vè do các cụ đặt từ xa xưa…).