Thứ Ba, ngày 05 tháng 4 năm 2011

VÌ SAO PHÚ YÊN ĐƯỢC GỌI LÀ “XỨ NẪU”

Ba Đà Rằng
Tạp chí Xưa và Nay, số 376, tháng 3/2011, tr. I

Gành Đá Dĩa, Tuy An, Phú Yên

Năm 1558, chúa Nguyễn Hoàng được vua Lê cử vào nhận trọng trách Tổng Đốc Thuận Quảng (Thuận Hoá, Quảng Nam), ra sức củng cố cơ nghiệp đất phương Nam theo lời dạy củaTrạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hoành sơn nhất đại, vạn đại dung thân” (một dải hoàng sơn, đủ để tạo cơ nghiệp muôn đời). Lúc ấy, Thừa Tuyên (đơn vị hành chính cấp tỉnh) Quảng Nam kéo dài từ nam đèo Hải Vân đến đèo Cù Mông. Năm 1578, chúa Nguyễn Hoàng cử Phù Nghĩa hầu Lương Văn Chánh làm Trấn biên quan đưa lưu dân (người nghèo không sản nghiệp) khai khẩn vùng đât mới từ nam đèo Cù Mông đến đèo Cả. Sau 33 năm khai phá vùng đất mới, hình thành làng mạc, năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng thành lập phủ Phú Yên (trực thuộc Thừa Tuyên Quảng Nam) gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hoà. Năm 1629, chúa Nguyễn Phúc Nguyên (chúa Sãi) nâng cấp phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên (đơn vị hành chính cấp tỉnh. Cả xứ Đàng Trong từ Quảng Bình vào Phú Yên có 7 dinh). Do đặc điểm của vùng đất mới còn hoang hoá, dân cư thưa thớt nên các đơn vị hành chính vùng biên viễn có những nét đặc thù. Dưới cấp huyện có cấp Thuộc, dưới Thuộc là đơn vị hành chính nhỏ hơn như phường, nậu, man.
Phường là các làng nghề có quy mô như phường Lụa, phường Sông Nhiễu. Nậu là tổ chức quản lý một nhóm nhỏ cùng làm một nghề, người đứng đầu gọi là đầu nậu. Sách Đại Nam thực lục (tiền biên) ghi rõ: “Nậu, nguyên nghĩa là làm cỏ ruộng, rồi chỉ làng xóm và sau nữa thành tên một đơn vị hành chính, quản lý một nhóm người có cùng một nghề”.
Ví dụ: “Nậu nguồn” chỉ nhóm người khai thác rừng, “Nậu nại” chỉ nhóm người làm muối, “Nậu rổi” chỉ nhóm người bán cá, “Nậu rớ” chỉ nhóm người đánh cá bằng rớ vùng nước lợ, “Nậu cấy” chỉ nhóm người đi cấy mướn, “Nậu vựa” chỉ nhóm người làm mắm …
  Do sự phát triển của xã hội Đàng Trong, năm 1726, chúa Nguyễn Phúc Chú (1697-1738) cử Đại lý lục chính danh Nguyễn Đăng Đệ quy định phạm vi, chức năng của các đơn vị hành chính. Các đơn vị hành chính như “Thuộc”, “Nậu” bị xoá bỏ. Khái niệm thành tố chung cấp hành chính “Nậu” được biến nghĩa dùng để gọi người nào đó và sau này dùng để gọi đại từ nhân xưng ngôi thứ ba. “Không gian Nẫu” gồm hai tỉnh Biình Định, Phú Yên và vùng Tu Bông (Khánh Hoà). Từ “Nậu” không xuất hiện độc lập mà chỉ có mặt trong các tổ hợp danh ngữ.
Ví dụ:
- Chiều chiều mây phủ Đá Bia
Đá Bia mây phủ chị kia mất chồng
Mất chồng như thể mất trâu
Chạy lên chạy xuống cái đầu chôm bơm
- Tiếc công anh đào ao thả cá
Năm bảy tháng trời nậu lạ tới câu
- Ai về nhắn với nậu nguồn
Mít non gởi xuống cá chuồn gởi lên
Từ chữ “Nậu” ban đầu, phương ngữ Phú Yên – Bình Định tỉnh lược đại từ danh xưng ngôi thứ ba (cả số ít và số nhiều) bằng cách thay từ gốc thanh hỏi.
Ví dụ: Ông ấy, bà ấy được thay bằng: “ổng”, “bả”, Anh ấy, chị ấy được thay bằng: “ảnh”, “chỉ”. Và thế là “Nậu” được thay bằng “Nẩu”.
“Nẩu” đã đi vào ca dao Bình Định, Phú Yên khá mượt mà, chân chất: Thương chi cho uổng công trình. Nẩu về xứ nẩu bỏ mình bơ vơ. Phương ngữ Thuận Quảng (Thuận Hoá – Quảng Nam) với “mô, tề, răng, rứa, chừ”, vượt qua đèo Bình Đê (ranh giới Bình Định – Quảng Ngãi) được đổi thành “đâu, kia, sao, vậy, giờ”. Và đặc trưng ngữ âm của vùng Nam Trung Bộ (Bình Định- Phú Yên) không phân biệt rạch ròi cách phát âm dấu hỏi và dấu ngã. Đặc biệt, bà con vùng biển từ Hoài Nhơn (Bình Định) đến Gành Đỏ (Sông Cầu – Phú Yên), các âm dấu ngã đều phát âm thành dấu hỏi. Riêng đồng bằng Tuy Hoà, khi phát âm không phân biệt được dấu hỏi và dấu ngã.
Bởi vậy, “Nẩu” hay được phát âm là “Nẫu”. Đồng bằng Tuy Hoà trù phú, nhiều nhà giàu trong vùng cho con cái đi học chữ phương xa. Các vị có chữ nghĩa viết chữ “Nẩu” theo phát âm quen miệng thành chữ “Nẫu”. Một thời cơ cực, thành ngữ “buồn nẫu ruột”, “trái cây chín nẫu” (chín úng) … cũng góp phần hoá thân chữ “Nẩu” thành chữ “Nẫu”. vậy là chữ “Nẫu” theo kiểu phát âm phương ngữ trở thành từ cửa miệng, đi vào thơ ca, báo chí.
Trong những ngữ cảnh cụ thể, “nẫu” còn là đại từ nhân xưng ngôi thứ hai và cả ngôi thứ nhất. Đơn cử, “thâu xửng rầu, nẫu dìa” (Thôi, mưa tạnh rồi, em về), “nẫu” trong ngữ cảnh này là ngôi thứ nhất. Hoặc “nẫu nói vậy nẫu nghe được hông” (anh nói vậy em nghe được không) – nẫu trong ngữ cảnh này là ngôi thứ nhất nói với ngôi thứ hai…
Rất mong các vị cao minh vui lòng chỉ giáo để sáng tỏ thêm một từ phương ngữ đặc trưng của Nam Trung Bộ