Thứ Ba, 7 tháng 12, 2010

CHA DUPONT MINH (1859-1885)


“Nos missionnaires, précédés d’une étude historique sur la Société des Missions Étrangères”
Adrien Launay
Retaux-Bray, Paris, 1886
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ
Trích "Bản Thông Tin" Giáo phận Qui Nhơn, số 151 tháng 11/2010


Œ
          Nằm ở phía bắc Cholet, trên sườn đồi nhìn xuống thung lũng Beuvron màu mỡ và đẹp mắt, đó là thị trấn Andrezé. Đây chính là sinh quán của vị tử đạo thân yêu và vinh hiển của chúng ta, Cha Honoré Dupont.
          Ngài học ở Tiểu chủng viện Beaupréau và theo như tuần báo La semaine religieuse của địa phận Anger thì: “Lòng đạo đức của ngài luôn có ba đặc điểm này: sự yêu thích cầu nguyện, Thánh Thể và hy sinh”. Và để bổ túc cho chân dung này, chúng tôi thêm vào lòng yêu mến Đức Mẹ. Một trong những bạn học của ngài viết: “Cậu ấy rước lễ thường xuyên đến nỗi chúng tôi thấy ghen tị”. Chính vì mối tương quan sâu đậm và thường xuyên với Chúa Giêsu này mà Cha Dupont cảm nhận được những mong ước đầu tiên là hiến trọn cuộc đời mình để đem lương dân trở lại.
           Ngài chẳng ngần ngại điều gì; phó thác hoàn toàn cho Chúa xem ra là điều quá dễ dàng đối với ngài, mặc cho bao hy sinh và đau đớn. Hơn nữa, ơn gọi của ngài không phải là tiếng sét trên đường Damas mà là sự bừng nở của tâm trí và tình yêu thanh khiết dưới những tia nắng ấm áp của ân sủng. Phúc thay người được Chúa chọn từ thưở ấu thơ và đứng lên nơi Cung Thánh!
          Vào năm 1881, Cha Dupont vào Chủng Viện Thừa Sai Hải Ngoại và ở đấy 3 năm. Tháng Chín 1884, cha nhận nhiệm vụ truyền giáo tại Đông Đàng Trong.
          Trước khi khởi hành, cùng với các thừa sai trẻ, các bạn đồng hành, cha đi cám ơn quý bà bảo trợ trong Hội Những Người Ra Đi (Oeuvres des Partants). Tôi đã nói về hội này nhưng chưa nói về tổ chức cũng như các phương tiện hoạt động. Nay gặp chủ đề có liên quan nên tôi nói rõ hơn.

          Giám đốc của Hội Những Người Ra Đi là giám đốc chủng viện Hội Truyền Giáo Nước Ngoài; đồng thời hội cũng có một bà giám đốc, một bà phó giám đốc, một thủ quỹ, một thư ký, các cố vấn, các ủng hộ viên và hội viên. Hội giúp đỡ các thừa sai bằng lời cầu nguyện, đóng góp hội phí và việc làm.
          Cầu nguyện thì hằng ngày, hội phí là 5 francs mỗi năm hay 110 francs cho một lần duy nhất, còn việc làm trước hết là chuẩn bị hành trang quần áo cho các thừa sai; thế nhưng lòng bác ái thì luôn có những ước muốn vô cùng và những đòi hỏi mới; các thành viên giúp đỡ những người sẽ ra đi, những người chuẩn bị lên đường, các bà còn muốn giúp đỡ những ai chỉ phải ra đi trong một hay hai năm tới, các bà còn xin đảm nhận việc giặt giũ áo quần trong Chủng viện Thừa Sai Nước Ngoài. Bà giám đốc đã biến các cơ sở của mình thành một xưởng nữ công và đặt tên là Nazareth. Có những từ nào đó gói ghém cả một chương trình hành động, ít ra trong trường hợp này, tên Nazareth ở đây có nghĩa là: khiêm nhường, đức tin, cầu nguyện và làm việc.
          Thứ ba hằng tuần, các hội viên của Hội Những Người Ra Đi làm việc và cầu nguyện ở xưởng; đến đấy là các bà mà tổ tiên của họ là bạn chiến đấu với các hiệp sĩ của đội quân Thập Tự Chinh như là các thủ lãnh Godefroi de Bouillon và Tancrède de Hauteville; họ đến đấy không mang theo bằng khen hoặc huy hiệu gia tộc, ở Nazareth người ta không bận tâm đến những vấn đề trần thế; các hội viên chỉ có một danh hiệu là con cái Thiên Chúa; chỉ có một huy hiệu, huy hiệu của Hội Những Người Ra Đi: một con thuyền, cánh buồm căng trước gió, lướt nhanh trên những đợt sóng êm.
           Cha Dupont và các bạn đến xưởng Nazareth vào một ngày thứ Ba. Sự đơn giản là con gái của đức bác ái; họ không nhìn thấy ở đấy những lọ gốm sứ, những đồ mỹ nghệ trang nhã, những tác phẩm hội hoạ bậc thầy mà chỉ thấy những bao tải to chứa đựng áo sơmi vải, bao đựng giày, áo choàng xanh; ở bên trên đống bao tải này có ba bức tượng Đức Mẹ, Thánh Giuse và nữ thánh Têrêsa, được chiếu sáng bằng một ngọn đèn và cắm hoa ở chung quanh, đó là sự sang trọng duy nhất được phép ở xưởng Nazareth bởi vì đây là sự tôn kính chứ không phải xa hoa. Cuộc thăm viếng ngắn ngũi, họ nói chuyện về những xứ sở xa xôi, những linh hồn cần cứu rỗi và nhiều khổ cực phải chịu đựng. Họ hứa luôn nhớ nhau trước Thiên Chúa, rồi các thừa sai và các bà quỳ gối, bà giám đốc đọc kinh sau đây mà ở xưởng nữ công này người ta đọc đầu mỗi giờ trong ngày:
          “Lạy Chúa, Đấng muốn mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lý, chúng con nài xin Chúa gởi các thợ gặt đến những cánh đồng truyền giáo, rao giảng với lòng tín thác vào lời Ngài, để Tin Mừng của Ngài được loan truyền và vinh danh, để mọi dân tộc nhận biết Ngài là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng mà Ngài đã gởi đến cho chúng con là Đức Giêsu Kitô, Đấng hằng sống và hiển trị với Ngài trong sự hợp nhất với Chúa Thánh Thần từ muôn thưở đến muôn đời. Amen!”
            Dứt lời cầu nguyện, các thừa sai rút lui. Ngày nay, những người kế nhiệm của họ còn được hạnh phúc hơn nữa: trước khi rời xưởng, họ đến quỳ gối chốc lát trong nhà nguyện mà Đức Thánh Cha đã ban phép xây dựng trong một căn phòng của bà giám đốc Hội nơi mà ngày đêm có Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta ngự trị.
Ž
          Năm ngày sau chuyến viếng thăm này, Cha Dupont rời nước Pháp.
           Từ Marseille, Ngài viết: “Tôi ra đi để thánh hoá mình hoặc đúng hơn là để đem lại các linh hồn, bởi vì một trong những cách tốt nhất để vào Nước Trời chẳng phải là mở cánh cửa cho những người khác vào hoặc làm theo ý Thiên Chúa sao?”
           Tình hình trong miền truyền giáo không được yên ổn. Các thân hào và nhân sĩ cố gieo rắc trong dân chúng lòng thù hận đối với các nhà truyền giáo và giáo dân. Đã xảy ra vài cuộc cướp bóc lẻ tẻ.
             Cha Dupont được sai đến một sở họ nhỏ gần Gia Hựu để học tiếng Annam. Chính tại đây ngài đã biết tin về cái chết của năm thừa sai bị sát hại trong tỉnh lân cận vào tháng Bảy và tháng Tám.

Di tích hang đá Gia Hựu hiện nay
Di tích mả thánh Gia Hựu hiện nay, nơi lưu giữ hài cốt cha Dupont Minh và các giáo dân tử đạo năm Văn Thân 1885

           Cha Geffroy phụ trách địa hạt này đã gọi cha Dupont đến. Tình hình mỗi ngày trở nên nguy hiểm. Lương dân trở nên táo bạo hơn vì thấy mình thành công và không bị trừng phạt, họ tiếp tục cướp bóc và chém giết. Cha Geffroy nói: “Tôi đề nghị cha Dupont đi Huế để trình bày tình hình với tướng Courcy, nhưng ngài đã từ chối, nói rằng mình còn quá trẻ và tốt hơn là chính tôi nên đi đến đấy. Ngài đã hứa chăm sóc địa hạt khi tôi vắng mặt và ban bí tích giải tội cho giáo dân khi mọi sự kháng cự trở nên vô ích”
             Cha Geffroy ra đi và cha Dupont ở lại một mình. Vài ngày sau, ngài viết cho bức thư anh mình bức thư đầy đức tin và khiêm tốn này:

Gia Hựu, ngày 23 tháng Bảy 1885
Félix thân mến,
Trong bức thư cuối cùng, anh đã là một nhà tiên tri mà không hề hay biết phải không? Với tư cách là người đỡ đầu và là người anh, với trọn vẹn đức ái của một người linh mục, anh đã khuyên em tỏ ra xứng đáng với ơn gọi tông đồ, trung thành ngay cả khi phải hy sinh mạng sống! Ôi Félix! Liệu anh có tin và hiểu rằng phúc tử đạo đang ở ngay đây, ngay trước cửa, chỉ một vài giờ nữa thôi và có thể em sẽ được nhận lãnh, nghĩa là bị thiêu đốt, bị thảm sát hay phân ra hàng ngàn mảnh. Ôi anh ơi! Thật là một cơ hội! Vui sướng biết bao nhưng cũng đau đớn biết bao, khổ ải cả trong tâm hồn!
Từ chín ngày nay, tin tức khủng khiếp đến dồn dập. Ba thừa sai là các cha Garin, Poirier, Guégan, năm đến sáu ngàn giáo dân bị thảm sát với sự điên cuồng của quỷ dữ, những người còn lại thì trốn trên núi, nơi thú dữ và nhất là đói khát sẽ đến kết thúc mạng sống họ; nhà thờ bị đốt cháy, củi đốt là các giáo dân; cô nhi viện, tu viện ngập chìm trong máu. Kinh hoàng khắp nơi, chém giết khắp nơi trong tỉnh Tư Ngãi. Người Pháp đâu? … Không một bóng dáng. Mọi người mong chờ họ … Không một động tĩnh giải cứu nào! Vậy thì tất cả con cái tội nghiệp của chúng tôi cũng như các thành quả đều phải bị xoá sạch! Đau thương quá! Nhà em chứa đầy giáo dân. Khi gần chúng em họ ít sợ hãi hơn, họ tin rằng chúng em sẽ cứu thoát họ. Biết làm sao đây Chúa ơi? Chúng con sẽ cùng chết với họ.
Gặp lại sau nhé, anh thân mến. Nếu thoát được, em sẽ kể cho anh nghe nhiều chi tiết. Thật sự, có những điều tàn ác không thể tưởng được.
Nhưng cũng có thể em sẽ tử đạo! A! Ước chi đó là sự thật! Phúc cho linh hồn tôi! Xin chúc tụng Thiên Chúa!
Hãy vui mừng hát bài Te Deum; nhưng trước đó hãy than bài Miserere vì cuộc sống em đã rất khốn đốn. Nếu phải chết, Félix! Hãy nói với mọi người, em không thể kể ra hết mọi người, với cả gia đình, rằng em chết khi cầu xin họ tha thứ cho những xúc phạm và vô ơn, những thiếu sót đối với họ.
Và giờ đây cận kề cái chết.Nhờ sự giúp sức của Chúa Giêsu và Mẹ Maria, khi nhớ đến mẹ, đến Victor, đến Octavie, đến tất cả những người thân diễm phúc đã qua đời, em sẽ không quỵ ngã…. Em thường xuyên cầu khẩn Thiên Chúa, Nữ Vương các tử đạo; Lời cầu xin của em sẽ không bị chối từ.
Tạ ơn Thiên Chúa!
Cuối cùng, anh thân mến! tạm biệt và hẹn gặp nhau nơi Thiên Chúa! Hôn tất cả mọi người và siết chặt anh có thể là lần cuối cùng.
Honoré Dupont
          Vài tuần sau đó, cha Dupont hoàn tất hy tế và nhận lãnh phần thưởng được hứa dành cho những ai hiến dâng mạng sống mình vì Thiên Chúa và vì Giáo Hội.
           Ngài chỉ được làm nhà truyền giáo trong vài tháng thế nhưng đã làm được rất nhiều trong số ngày ít oi đó. Ngài đã đạt được nước trời và để lại những gương mẫu thánh thiện và cao quý cho trần gian. Defunctus adhuc loquitur (Tuy đã chết rồi nhưng vẫn còn lên tiếng – Dt 11, 4).
           Cho đến tận hôm nay, chúng ta không biết một chi tiết nào về cái chết của ngài, cũng như về các thừa sai Guégan và Barrat. Chỉ có các thiên thần trên trời hay các đao phủ mới có thể nói cho chúng ta biết cực hình nào các ngài đã phải chịu, lòng can đảm nào mà các ngài chứng tỏ, và với niềm hạnh phúc nào mà các ngài đã dâng hiến mạng sống mình cho Thiên Chúa và Giáo Hội.   


Chủ Nhật, 5 tháng 12, 2010

GÀ ẢO VÀ NHỮNG ĐỒNG TIỀN … BUỒN TỦI

Nguyễn Mỹ Nữ
Tuổi trẻ cuối tuần, ngày 5/12/2010

         
          Câu chuyện thứ nhứt
          Gia đình cháu sống ở một xứ đạo chỉ cách thành phố này khoảng mười lăm cây số. Xứ đạo được biết đến bởi một chủng viện rất nổi tiếng có tên là Làng Sông. Quê cháu bão lũ thường xuyên và mỗi năm thêm dữ dội hơn, tàn khốc hơn. Năm ngoái là cơn bão số 9, số 11 và liền sau đây là lũ lụt kinh hồn. Năm nay chỉ chưa đầy một tháng mà quê cháu đã mấy lần bị cô lập trong biển nước.
          Người Kitô giáo vẫn thường nhờ người trong bổn đạo làm cha mẹ đỡ đầu cho con mình khi đứa trẻ chào đời. Bé trai thì có cha và bé gái thì có mẹ. Tên thánh là tên thánh của cha mẹ đỡ đầu. Riêng cháu, chính chồng tôi lại còn được yêu cầu đặt cả tên giấy khai sinh nữa kìa! Cháu sinh ra và lớn lên ở nông thôn lại sống trong một gia đình đạo hạnh, nề nếp nên rất ngoan. Ở quê khổ hết biết. Hạn hán đất nứt nẻ, ruộng vườn cháy khô thì khổ theo hạn hán. Còn bão lũ lại đằm mình trong cái đói, nỗi sợ, cái lạnh và những lo toan. Cháu “đẹt” nhiều so với mấy đứa trẻ thành phố cùng cỡ tuổi, nhưng không đẹt chút nào khi cùng những người thân dang mưa dãi nắng kiếm ăn sau buổi học.
          Đã thành lệ, cứ cỡ tháng 9, tháng 10 khi gà nhà ấp nở, cháu luôn xin ba má một cặp và nuôi riêng để dành cuối năm đi tết “ông bỏ, bà vú”. Cháu luôn gọi chúng tôi như vậy. Năm ngoái, cũng những ngày mưa lụt thế này, không chỉ cặp gà của cháu mà cả đàn gà của nhà rồi lúa giống, cây trái, hoa màu … tuôn trôi hết theo lũ. Vợ chồng tôi về thăm gia đình liên sau đó. Thấy chúa ở trần ốm trơ xương, bận cái quần đùi còng queo đang dọn bùn non trên sân trước. Gặp, cháu nói: “Năm nay con không có đi tết cho ông bỏ, bà vú rồi”. Tôi vuốt đầu tóc cháu khô khòng dính dáp đầy bùn đất mà thương quắt lòng. Vẫn ráng cười, khi trả lời mà nước mắt ứa: “Có gà chứ sao không, con. Thì gà ảo”.
          Và năm nay nữa. Quà tết của đứa con đỡ đầu, của một cháu bé miền quê, vùng lũ dành cho chúng tôi, chắc hẳn vẫn là gà. Và tất nhiên lại là gà ảo!
            Câu chuyện thứ hai
          Thằng con bạn tôi là người thành phố mà tính thì nhà quê rặc ri. Ít dám đòi hỏi và hết sức căn cơ. Chắc do thấy cha mẹ khổ, nhà năm nào cũng bị nước ngập và mớ đồ đạc vốn đã lèo tèo lại thêm ít ỏi hơn vì giữ không kịp nên bị nước cuốn. Nhà nghèo vì lũ vì lụt mà. Sống chung với nước thường xuyên nên cả nhà bạn tôi cũng quen. Kể cả cái thằng nhóc mới qua cấp I này. Ngập ít và nước hiền, cháu điềm nhiên ở nhà với ba mẹ và sinh hoạt bình thường trong tình trạng nước luôn mấp mé tới bắp vế. Ngập nhiều và nước dữ, chúa được gởi về nhà ngoại. Gia đình khó khăn đâu có mấy khi cháu có được ít đồng trong túi, ngoại trừ tết nhât. Mà tiền lì xì của con nhà nghèo cũng đâu có nhiều nhặn gì. Trên trăm bạc là hết cở trong khi mấy con nhà giàu, nghe nói tiền mừng tuổi gì đâu mà tính bằng tiền đô và phải con số ngàn. Ngàn đô, tính ở thời điểm này đã bước qa ngưỡng hai mươi triệu đồng Việt Nam. Trời đất! Tiền lì xì gì mà dễ sợ? Rồi những gia đình trung lưu mà tôi biết, con cháu họ tiền mừng tuổi một đứa gộp lại cũng có cả bạc triệu. Đưa ra những con số trên để thấy mực chên lệch tiên lì xì ở một đứa con nít nhà giàu và một đứa trẻ nhà nghèo.
          Tiền ít nhưng được cái thằng con của bạn tôi biết cất giữ, dè sẻn nên hụt hao cũng không đáng kể gì. Cuối  năm ngoái, sau mấy đợt lũ dữ tràn về, cảnh nhà đã túng kẹt lại thêm nhiều phần túng bấn. Tết tới nơi mà thấy gia đình mình không một chút động chuyển, ba má cứ làm thinh khan, cháu có vẻ nóng ruột và một khuya, cháu cầm một trăm ngàn đưa cho má mà mếu máo: “Tiền mừng tuổi con còn giữ được từ bữa đầu năm. Con đưa để má coi mua được chút gì đó cho tết thì mua. Tiền này là tiền … buồn tủi đó má!”
          Tôi nghe bạn kể câu chuyện này từ những ngày cuối tháng chạp năm ngoái. Giờ, một năm nữa sắp qua. Lũ vẫn tràn về và lụt còn khủng khiếp hơn. Nghe nói do biến đổi khí hậu và đập thuỷ điện không dừng được đành phải xả lũ …

Thứ Năm, 2 tháng 12, 2010

DO ĐÂU CÓ SỰ DUYÊN CÁCH QUI NINH THÀNH QUI NHƠN VÀ DIÊN NINH THÀNH DIÊN KHÁNH

Nguyễn Lục Gia
Tạp chí “Xưa & Nay”
số 368 tháng 11 năm 2010, tr. 23-25

      Dưới thể chế phong kiến Đông phương, bằng uy quyền tuyệt đối của thiên tử đối với thần dân, trong cách thức xưng hô trực tiếp hay gián tiếp, một số tên gọi quan hệ đến danh tính của vua chúa hoặc hoàng tộc nhất thiết phải được kiêng dè. Tự tôn quốc huy (những chữ cả nước đương thời phải kiêng) là lẽ đương nhiên, dù rằng mức độ từng triều đại ít nhiều có khác.
      Họ Nguyễn cát cứ Đàng Trong ở vào một thời điểm lịch sử gặp nhiều bất lợi so với Đàng Ngoài của tập đoàn Lê – Trịnh, như lời của chúa Nguyễn Phúc Nguyên năm Canh Ngọ (1630): “Tiên Vương [chúa Nguyễn Hoàng] tài trí hơn đời cũng còn phải đi lại thông hiếu. Ta nay nhỏ mọn không bằng tiên vương, đất đai binh giáp lại không bằng một phần mười của Đông Đô (Đàng Ngoài) …)1. Vì vậy, trong buổi đầu tập họp lực lương và thu phục nhân tài, thái độ ứng xử của tầng lớp lãnh đạo họ Nguyễn phần nào gần gũi với quan dân, chưa có những chế định thành văn rạch ròi mang tính chất triều nghi, khuôn thước.
      Cùng với thực lực mạnh lên mọi mặt của xứ Đàng Trong, vị thế các chúa Nguyễn cũng ngày càng nâng cao và khẳng định. Nếu như sau chiến thắng Chămpa năm Quý Tỵ (1653), mở đất phía Nam đến sông Phan Rang với sự ra đời 2 phủ Thái Khang và Diên Ninh, chúa Nguyễn Phúc Tần được “bầy tôi dâng tôn hiệu là quốc chúa. Từ đấy sắc lệnh đều xưng là quốc chúa”1. Sang đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), quy mô cho nghiệp vương đã sẵn đủ, “bèn đục ấn Quốc vương, gọi phủ ở là điện, đổi chữ Thân làm chữ Tấu; có văn thư đưa xuống thuộc quốc thì xưng là thiên vương”2; lại ứng với lời sấm “Tám đời trở lại Trung đô” nên cho đổi y phục, thay phong tục. định triều phục văn võ, châm chước chế độ các đời …1
      Như vậy, việc “tự tôn quốc huy” chắc chắn là điều không thể bỏ qua vào thời điểm này. Năm Nhâm Tuất (1742), đổi phủ Qui Ninh làm phủ Qui Nhơn, phủ Diên Ninh làm phủ Diên Khánh1. Vẻn vẹn chỉ mỗi hai danh xưng của hai phủ mới đặt có cùng chữ “Ninh” đã được thay đổi cùng lúc, phải chăng sự kiện hy hữu này có mệnh hệ đến danh tính nhà Vương?
      Mặc dù việc truy tôn huy hiệu các đời được tiến hành cùng lúc với việc xưng vương vào năm 1744, như sử gia Lê Quế Đường chép lại: “truy tôn tổ là Chiêu Huân Tĩnh công Nguyễn Kim làm tước Vương. Nguyễn Hoàng làm Gia Dụ thái vương (…) Phúc Trú làm Hiếu Ninh vương2, song có thể hậu trường đã chuẩn bị từ trước, chỉ chờ lúc hội đủ “thiên thời địa lợi nhân hoà” là trưng diễn ra thôi, gíông như kiểu cách xưng vương: “Chúa nhún nhường không chịu nhận. Bầy tôi hai ba lần nài xin, chúa mới theo”1, bởi từ lúc vừa tiếp ngôi chấp chính (1738), Nguyễn Phúc Khoát đã cho lập phủ chính ở Phú Xuân cách nơi phủ cũ về bên tả, xây đến 1 năm sau mới hoàn thành. Dinh phủ độc lập, bề thế như vậy nên việc Nguyễn Phúc Khoát truy tôn cha mình tước hiệu thế nào càng không thể không tính trước. Với thuỵ hiệu là Đại đô thống tổng quốc chính Tuyên Quang Thiệu Liệt Đỉnh Ninh vương, chúa Nguyễn Phúc Chú [Trú, Trụ] được tôn dâng làm Tuyên Quang Thiệu Liệt Tuấn Triết Tĩnh Uyên Kinh Văn Vĩ Võ Hiếu Ninh vương1. Rõ ràng, cả thuỵ hiệu lẫn tôn hiệu, chữ Ninh của Ninh vương trở thành huý kỵ. Do vậy:
      - Phủ Hoài Nhơn thuộc thừa tuyên Quảng Nam từ năm 1471, đến năm 1651 được chúa Nguyễn Phúc Tần đổi làm phủ Qui Ninh, năm 1742 gọi thành Qui Nhơn lệ vào dinh Quảng Nam.
       - Phủ Diên Ninh thuộc dinh Thái Khang từ năm 1653, đến năm 1742 được gọi là Diên Khánh lệ vào dinh Bình Khang.
       Thế thì còn một danh xưng mang chữ Ninh khác là Trấn Ninh từ luỹ Trấn Ninh thuộc Quảng Bình dinh, tại sao vẫn được giữ nguyên?
       Trong cuộc chiến với họ Trịnh vào giai đoạn cuối khốc liệt, hệ thông phòng thủ của họ Nguyễn ở bờ nam sông Gianh tỏ ra vô cùng lợi hại. Tháng 9 năm Nhâm Dần (1662), sau khi đẩy lùi quân Trịnh về ranh giới cũ (bờ bắc sông Gianh), “Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật xin đắp luỹ Trấn Ninh để chống giữ đường biển, đối với luỹ Sa Phụ (bấy giờ gọi là luỹ Động Cát) làm thế dựa nhau. Chúa y cho. Vài tháng luỹ đắp xong”1. Sử gia Lê Quý Đôn của Đàng Ngoài cũng ghi nhận: “Mùa Đông năm ấy, Phúc tần sai đắp luỹ Trấn Ninh để làm thế đỡ nhau với luỹ Động Cát”2. Qua 10 năm hưu chiến, cuối năm Nhâm Tý (1672), quân Trịnh dốc toàn lực đánh trận cuối cùng với quân Nguyễn mà tiền đồn phải chọc thủng bằng mọi giá là luỹ Trấn Ninh. Thống suất bộ quân Lê Thời Hiến 3 lần tấn công thành Trấn Ninh đều bị đẩy lùi. Quân Nguyễn do Nguyên soái Tôn Thất Hiệp chỉ huy, “thanh thế quân lính vang dội xa gần (…) dựa vào nới hiểm trở, chiến đấu rất hăng, luôn luôn thu được thắng lợi, quân họ Trịnh không thể chống chọi được, rút về đóng ở châu Bắc Bố Chính. Tháng 12 nhân mùa đông giá rét, Trịnh Tạc dẫn quân về (…). Từ đây trở đi, phương Nam phương Bắc ngừng việc binh đao”3.
      Chiến thắng Trấn Ninh gắn liền với tên tuổi các bậc công thần khai quốc của họ Nguyễn, trong đó nổi bật lên Nguyên soái Hiệp, vị hoàng tử thứ tư “hùng dũng thao lược hơn đời”, mà “khi dẹp xong giặc trở về, tuyệt hẳn không cho đàn bà con gái tiếp kiến, dựng am nhỏ thờ Phật, thỉnh thoảng ra chơi, bàn đạo thuyết pháp để tự vui. Đến đấy (1675) bị bệnh  đậu mùa mà mất, mới 23 tuổi”1.
       Phải chăng, nhằm vinh danh một quân công xuất sắc trong những thời khắc thử thách tồn vong ngặt nghèo của lịch sử, cũng như để tri ân uy linh của các bậc đại công thần và bao dân binh ngã xuống, Võ Vương đã dành riêng cho luỹ Trấn Ninh đặc cách: giữ nguyên danh xưng Trấn Ninh, như đúng ý nghĩa tên gọi: giữ yên một cõi, nơi mà 100 năm có lẻ năm sau (1774), quân Trịnh lợi dụng sự hỗn loạn của Đàng Trong tràn sang, “Đồn luỹ Trấn Ninh có tiếng là hiểm trở thiên nhiên, sau khi Ngũ Phúc đã kéo quân vào, bèn sang phẳng luỹ ấy”3.
       Tuy nhiên, lịch sử hiện tồn theo cách riêng của nó: cả cái đang có lẫn cái đã biến mất đều được sống mãi cùng với sự vĩnh cửu của người đời.

Tham khảo:
1.      Quốc sử quán triều Nguyễn (1962), Đại Nam thực lục tiền biên, tập I, Nxb Sử Học, Hà Nội, tr. 56, 84, 108, 114, 123-124, 147, 201, 206, 208.
2.      Lê Quý Đôn (2007), Phủ biên tạp lục, Nxb Văn Hoá – Thông Tin, tr. 83-84.
3.      Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập II, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, tr. 329-330, 716