Thứ Hai, 7 tháng 3, 2011

MÙA CHAY, NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA





Jean Luc Muller
Église en fêtes, Téqui, 1990
 chuyển ngữ
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính


Là thời gian hướng về ngày lễ Phục Sinh bắt đầu với thứ Tư Lễ Tro, một thời gian thiêng liêng phong phú cho các cộng đoàn Kitô giáo, Mùa Chay với hình thức như hiện nay là kết quả của quá trình tiến triển lâu dài về lịch sử cũng như phụng vụ, xét về độ dài thời gian cũng như sự nghiêm ngặt của các quy định.
Nguồn gốc
Nói thật ra, Mùa Chay là một thiết chế của Giáo Hội không bắt nguồn từ thời Giáo Hội sơ khai. Đối với các Kitô hữu thời các tông đồ, mỗi ngày Chúa Nhật là một cử hành biến cố phục sinh, và mãi cho đến thế kỷ thứ II mới thấy xuất hiện một ngày lễ đặc biệt dành để tưởng niệm cái chết và phục sinh của Đức Kitô để rồi sau đó biến thành Tam Nhật phục sinh (Triduum pascal): thứ Năm Tuần Thánh, thứ Sáu Tuần Thánh và Vọng Phục Sinh.
Biến cố này được chuẩn bị bằng một hay nhiều ngày ăn chay tuỳ theo miền, thường là từ chiều thứ Năm Tuần Thánh cho đến sáng ngày lễ Phục Sinh, hoặc ít ra là trong vòng 40 giờ từ lúc Chúa chịu chết cho đến thời điểm phục sinh. Đến giữa thế kỷ thứ III, ở Alexandrie việc giữ chay kéo dài suốt Tuần Thánh, và đến cuối thế kỷ III thì tại Ai Cập cũng đã xuất hiện việc giữ chay kéo dài đến 40 ngày mà mục đích trước hết dường như là sống lại thời gian chay tịnh của Chúa Giêsu trong hoang mạc cũng như chuẩn bị cho lễ Phục Sinh.
40 ngày
Chẳng bao lâu sau, Mùa Chay 40 ngày của người Ai Cập đã định hình như là thời gian chuẩn bị cho cái chết và phục sinh của Đức Kitô và lan rộng ra khắp Giáo Hội. Vào tiền bán thế kỷ thứ IV, ở Roma đã hình thành một thời gian chay tịnh trong 3 tuần trước khi cử hành biến cố phục sinh và vào khoảng giữa những năm 354 đến 384 họ cũng đã thêm vào 3 tuần nữa. Như vậy chính xác có 40 ngày (quadragesima) giữa Chúa Nhật mở đầu Mùa Chay cho đến khi bắt đầu Tam Nhật Thánh (Triduum).

Nhưng vì không ăn chay vào các ngày Chúa Nhật nên thực tế chỉ có 34 ngày ăn chay trong thời gian này. Cộng thêm ngày thứ Năm và thứ Sáu Tuần Thánh thì cũng chỉ có 36 ngày. Và cũng vì muốn chuẩn bị cho biến cố phục sinh bằng cách rập khuôn chính xác 40 ngày chay tịnh của Chúa Giêsu trong hoang mạc nên vào thế kỷ thứ VII người ta thêm vào 4 ngày còn thiếu, và từ khi ấy người ta bắt đầu Mùa Chay với thứ Tư trước Chúa Nhật thứ nhất Mùa Chay mà sau này trở thành thứ Tư Lễ Tro. Vào ngày này, các tín hữu ở Roma tụ họp nhau tại nhà thờ Thánh Anastasie dưới chân đồi Palatin là nơi Đức Giáo Hoàng công bố mở đầu Mùa Chay; rồi mọi người đi thành đoàn rước đến nhà thờ Thánh Sabine trên đồi Aventin để cử hành thánh lễ.


Thứ Tư Lễ Tro
Việc xức tro có nguồn gốc từ thực hành thống hối công khai, một nghi thức bắt buộc dành cho các tín hữu phạm lỗi nặng hoặc làm gương xấu trước khi họ được chính thức tái hoà nhập cộng đoàn vào ngày thứ Năm Tuần Thánh, họ được xá tội và được phép rước lễ trở lại vì trước đó họ bị cấm.
Một trong những thực hành thống hối công khai này là xức tro trên đầu. Cử chỉ này thịnh hành ở Roma từ thế kỷ thứ IV và dần dần lan ra các xứ Kitô giáo, rồi nhiều tín hữu tự nguyện xức tro trên đầu để biểu lộ ý muốn thống hối. Chính các Đức Giáo Hoàng cũng đã chấp nhận nghi thức này và vào thế kỷ XI thì các ngài đã kết hợp việc thống hối này với việc bắt đầu Mùa Chay, do đó mà có tên gọi thứ Tư Lễ Tro và thực hành xức tro.
Là bụi đất, hình ảnh của tội lỗi và sự mong manh của con người, là những gì còn lại của thân xác sau khi ngọn lửa sự sống vụt tắt đi (St 3, 19; 18, 27), tro rắc trên đầu mà ngày nay người ta xức trên trán biểu lộ sự thống hối và tang chế (Is 58, 5; 61, 3; Gr 6, 26). Chính vì thống hối dưới bụi tro và áo mặc áo vải thô mà dân thành Ninivê nhận được sự tha thứ của Thiên Chúa (Gn 3)
Linh đạo Mùa Chay
Là thời gian hoán cải dành cho hối nhân, trong những thế kỷ đầu tiên, Mùa Chay cũng là thời gian chuẩn bị cho các dự tòng chịu phép rửa để được gia nhập cộng đoàn Kitô giáo vào đêm Phục Sinh, sau khi giữ chay và tiết chế trong suốt thời gian này cũng như miệt mài cầu nguyện.
Như thế, khi khuyên nhủ các tội nhân công khai hối cải, Giáo Hội cũng khích lệ toàn thể cộng đoàn thống hối, và khi nhắn gởi với các dự tòng, Giáo Hội cũng chuẩn bị cho mọi tín hữu sống lại ân sủng phép rửa của chính mình            
Khi chuẩn bị cho mọi người gặp gỡ Thiên Chúa, đối với các tín hữu, Mùa Chay đã trở thành một hành trình tiến về Thiên Chúa, một con đường vòng băng qua hoang mạc, một cuộc chiến đấu với những cám dỗ trong đời sống. Giáo Hội đề nghị chúng ta sống trọn vẹn cuộc sống Kitô hữu của chúng ta một cách nồng nhiệt hơn trong suốt mấy tuần hướng về ngày lễ Phục Sinh.
Như đoàn dân của Môisen lang thang nhiều năm dài trước khi vào Đất Hứa, chúng ta cũng khám phá ra rằng hành trình tiến về Thiên Chúa, con đường tiến về Nước Trời của chúng ta không phải là không gặp khó khăn, chướng ngại, thụt lùi, đôi khi có phản kháng nữa; thế nhưng Thiên Chúa vẫn luôn hiện diện để mang lại cho ta hy vọng và niềm tin. Khi kết hiệp với Chúa Giêsu Kitô vẫn luôn trung thành với Chúa Cha trong thử thách cuối cùng, chúng ta sống kinh nghiệm cuộc vượt qua tiến về Chúa Cha qua sự sống và cái chết, chúng ta dần tiến về mầu nhiệm của Đức Kitô để hiệp thông vào đấy một cách sâu xa hết sức có thể.
Làm thế nào để diễn dịch cách cụ thể cuộc hành huơng tiến về với Thiên Chúa mà mỗi Kitô hữu được mời gọi trong suốt thời gian Mùa Chay này? Đã có câu trả lời được lập đi lập lại qua các bản văn phụng vụ ngày Chúa Nhật (và những ngày khác) trong thời gian chuẩn bị cho biến cố phục sinh: các bài đọc Tin Mừng cũng như Kinh Tiền Tụng đã dành ưu tiên cho bộ ba này: cầu nguyện, ăn chay và chia sẻ.
1.         Cầu nguyện
Là khoảng không ngút mắt nơi không có sự sống, hoang mạc mà dân của Giao Ước cũ và chính Đức Kitô đã đi qua đưa chúng ta đến yếu tính của đời sống, dẫn chúng ta gặp gỡ với Hữu Thể độc nhất, cội nguồn cho hiện hữu của chúng ta: Thiên Chúa. Là nơi chốn gợi lên sự vô cùng của Thiên Chúa, chính trong hoang mạc mà Charles de Foucauld đã tận hiến hoàn toàn cho Ngài qua lời cầu nguyện. Như thế, hoang mạc và Mùa Chay là nơi chốn và thời gian để gặp gỡ Chúa trong lời cầu nguyện.
 Qua lời cầu nguyện, đời sống chúng ta hướng về Thiên Chúa, chúng ta để cho Chúa Thánh Thần uốn nắn mình theo hình ảnh Đấng Tạo Hoá để trở nên sẵn sàng cho Đức Kitô và cho anh em. Cầu nguyện là “lương thực hằng ngày” nuôi sống chúng ta bằng tình yêu của Thiên Chúa, không có nó tâm hồn chúng ta có nguy cơ xa rời ý muốn của Chúa Cha.
Theo gương các dự tòng vào những thế kỷ đầu tiên đã toàn tâm toàn ý cầu nguyện cách quảng đại và thực tâm, theo gương Đức Kitô lui vào trong cô tịch của hoang mạc Giuđa, chúng ta hãy biến Mùa Chay thành một thời gian gặp gỡ Chúa, chiêm niệm và tạ ơn, ngợi ca Danh Thánh Chúa và biến đổi tâm hồn.
2.         Ăn chay
Là nơi gặp gỡ Thiên Chúa, đối với dân Israel cũng như đối với Đức Kitô, hoang mạc đồng thời cũng là thời gian thử thách, là trận chiến chống lại thế lực sự dữ để không nhường bước trước thú vui, điều choáng ngợp và quyền lực, ba thần tượng mà con người thường hy sinh tất cả để đạt cho được. Những cám dỗ này không ngừng quấy nhiễu chúng ta và là nguồn gốc nhiều sự dữ, ngay từ khi xuất hiện Mùa Chay, việc từ bỏ những cơn cám dỗ này được diễn dịch bằng việc ăn chay, một thực hành rất đòi hỏi nhưng lại đạt được nhiều kết quả thiêng liêng. Khi giảm thiểu những nhu cầu sống để chỉ giữ lại những gì thiết yếu, việc ăn chay giúp chúng ta trở nên những người nghèo khó trong tâm hồn (xem Các Mối Phúc), nghĩa là thành những con người cần đến Thiên Chúa, nhường cho Ngài một chỗ trong đời sống mình, người nghèo trong Tin Mừng là những người đặt hết niềm hy vọng vào Chúa, háo hức gặp gỡ với Đức Kitô. Như vậy sự khổ hạnh và từ bỏ mọi sự rất cần thiết để Thánh Thần Thiên Chúa xâm chiếm lấy con người mình.             
Nếu chay tịnh trước hết có nghĩa là từ bỏ của ăn thì trong ý nghĩa tận căn hơn nữa ăn chay cũng có nghĩa là từ bỏ tính ích kỷ, tính cứng đầu và lòng tham lam của chúng ta: “Đây là những điều bạn phải thực hành khi muốn ăn chay. Trước hết, hãy xa lánh mọi lời nói và ước muốn xấu xa, thanh tẩy tâm hồn khỏi mọi thứ hư không đời này. Nếu giữ được điều đó, việc ăn chay của bạn sẽ nên hoàn hảo. Sau khi hoàn tất những gì tôi đã viết trên đây, vào ngày ăn chay, bạn không ăn gì ngoại trừ bánh mì và nước lã và rồi hãy tính toán giá lương thực mà bạn thường ăn trong ngày ấy, bạn dành tiền ấy để cho quả phụ, cô nhi hoặc người nghèo … Nếu bạn ăn chay theo như những điều tôi khuyên nhủ trên đây, hy sinh của bạn sẽ được Thiên Chúa chấp nhận” (Le Pasteur d’Hermas).
3.         Chia sẻ
Ngay từ thế kỷ thứ II, việc ăn chay đã có khuynh hướng chia sẻ như là một phương tiện giúp đỡ những ai đang túng thiếu để chúng ta có thể tiến đến gần Thiên Chúa hơn. Thánh Cyprianô thành Carthage vào thế kỷ thứ III cũng đã để lại những dòng chữ rất thuyết phục về chủ đề này: “Những người giàu có và dư dật … bạn sẽ trở nên vàng ròng khi tinh luyện mình qua các công việc vì đức công bình và làm bố thí … Hãy xem trong Tin Mừng, một bà goá nghèo đã đi vào trong lời dạy của Thiên Chúa khi bà bố thí giữa lúc thất vọng và túng bấn. Bà ném vào trong thùng tiền hai đồng xu cuối cùng. Chúa đã lưu ý và nhấn mạnh về tấm lòng quảng đại của bà và nói: “Bà goá này đã dâng cho Thiên Chúa nhiều hơn mọi người khác” … Đức Giêsu Kitô muốn chúng ta hiểu rằng của bố thí của chúng ta sẽ đến với chính Thiên Chúa và rằng những ai bố thí thì đẹp lòng Chúa”.
Chia sẻ cũng là tình yêu tha nhân, nhìn nhận người khác như đồng loại của mình, nhận ra Đức Kitô trong những người anh em hèn mọn nhất. Đây là biểu hiện tình yêu Thiên Chúa của chúng ta và không thể được diễn dịch đơn thuần chỉ bằng một phong trào cứu trợ hay phong trào đoàn kết nào đó. Qua sự thiếu thốn và chia sẻ, chúng ta đáp ứng được giới răn kép của tình yêu: “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi và yêu tha nhân như chính mình”.
Ghi chú:
Khi nói về việc ăn chay, mãi cho đến thế kỷ thứ IX, tất nhiên là việc giữ chay nghiêm nhặt hơn ngày nay nhưng không phải là các tín hữu cả ngày không ăn uống gì. Thật ra, người ta phân biệt:
- Ăn chay đơn giản, kiêng mọi thứ thịt, cả trứng, phômai, bơ và sữa. Việc ăn chay này kéo dài suốt Mùa Chay, trừ các ngày Chúa Nhật.
- Ăn chay nhặt một vài ngày nào đó trong thời gian này, nhất là thứ Sáu và thứ Bảy Tuần Thánh. Trong những ngày này người ta chỉ dùng một bữa ăn nhẹ duy nhất trong ngày.
Hiện nay, Giáo Hội chỉ buộc kiêng thịt vào các ngày thứ sáu của Mùa Chay, ăn chay cùng với kiêng thịt vào các ngày thứ Tư Lễ Tro và thứ Sáu Tuần Thánh. “Luật kiêng thịt buộc những người đã 14 tuổi trọn. Luật ăn chay buộc hết mọi người đã đến tuổi trưởng thành cho tới lúc bắt đầu 60 tuổi” (Giáo luật điều 1252).
Nhưng trọn Mùa Chay vẫn là thời gian thống hối, các ngày thứ Sáu khác trong năm cũng vậy. Trong những ngày này, “Các tín hữu chú trọng đặc biệt đến sự cầu nguyện, thi hành việc đạo đức và việc bác ái, từ bỏ bản thân, bằng cách chu toàn các bổn phận riêng và nhất là bằng cách giữ chay và kiêng thịt” (Giáo luật điều 1249). Việc giữ chay và kiêng thịt cũng có thể được thay thế bằng các hình thức thống hối khác do Hội Đồng Giám Mục quy định (Giáo luật điều 1253).
Phụng vụ
Sự thống hối của Mùa Chay được biểu lộ ra bên ngoài qua màu lễ phục phụng vụ (màu tím) và không đọc kinh Allêluia và kinh Vinh Danh trong thánh lễ và các giờ kinh. Ngày xưa, việc đánh đàn trong nhà thờ hoàn toàn bị bãi bỏ trong thời gian này, ngày nay người ta hết sức giảm thiểu, chỉ đệm đàn để hát.
Một nốt nhạc vui đột nhiên cắt ngang những ngày thống hối này: đó là ngày Chúa Nhật Vui (Laetare), hay Chúa Nhật thứ tư Mùa Chay với lễ phục màu hồng thay cho màu tím. Nguyên thuỷ của ngày này được tìm thấy trong nghi thức trao ban Tín biểu đức tin (kinh Tin Kính) cho các dự tòng vào ngày thứ Tư sau Chúa Nhật thứ tư Mùa Chay. Vì thế, niềm vui của Giáo Hội đã được biểu lộ trong phụng vụ ngay từ ngày Chúa Nhật vì mình sắp được thâu nhận những tín hữu mới. Lý do thật sự của ngày Chúa Nhật Vui (Laetare) – mà tên gọi xuất phát từ ca nhập lễ trong ngày này (Laetare Jerusalem – Hãy vui lên hởi Giêrusalem) – sau đó đã bị lãng quên để rồi mang lấy một ý nghĩa khác là “để an ủi cho các tín hữu khỏi bị ngã lòng nản chí vì nỗ lực kéo dài trong Mùa Chay và giúp họ tiếp tục chịu đựng những hạn chế với tâm hồn thanh thản và nhẹ nhàng” (Giáo Hoàng Innôcentê III, 1216).
Bài đọc các ngày Chúa Nhật Mùa Chay
Hướng về ngày lễ Phục Sinh, phụng vụ Lời Chúa trong 5 Chúa Nhật Mùa Chay (Chúa Nhật thứ sáu là Lễ Lá và Thương Khó) được diễn dịch bằng cách gợi lại những giai đoạn lớn trong hành trình của nhân loại tiến về ngày Phục Sinh của Đức Kitô:
- Những giao ước nguyên thuỷ (Năm A: St 2, 7-3, 7; Năm B: St 9, 8-15; Năm C: 26, 4-10)
- Abraham (Năm A: St 12, 1-4; Năm B: St 22, 1-18; Năm C: St 15, 5-18)
- Môisen (Năm A: Xh 17, 3-7; Năm B: Xh 20, 1-17; Năm C: Xh 3, 1-15)
- Đất Hứa (Năm A: 1 Sm 16, 1-3; Năm B: 2 Sb 36, 14-23; Năm C: Gs 5, 10-12)
- Các ngôn sứ (Năm A: Ed 37, 12-14; Năm B: Gr 31, 31-34; Năm C: Is 43, 16-21)
Chủ đề của các bài Tin Mừng:
- Cơn cám dỗ và sự biến hình của Đức Kitô trong hai Chúa Nhật đầu tiên theo một trong ba Tin Mừng Nhất Lãm.
- Giáo lý về bí tích rửa tội trong ba Chúa Nhật còn lại của năm A (Ga 4, 5-42; Ga 9, 1-41; Ga 11, 1-45)
- Thập giá, dấu hiệu tôn vinh của Đức Kitô, trong ba Chúa Nhật còn lại của Năm B (Ga 2, 13-25; Ga 3, 14-21; Ga 12, 20-33)
- Lòng thương xót của Chúa kêu mời hối cải trong ba Chúa Nhật còn lại của Năm C (Lc 13, 1-9; Lc 15, 1-32, Ga 8, 1-11)
Cuối cùng là các bài thánh thư được chọn lựa để làm rõ nghĩa cho bài Tin Mừng hay bài trích Cựu Ước.
          
Trích “Bản Thông Tin” giáo phận Qui Nhơn, số tháng 2/2011


Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2011

LƯỢC SỬ GIÁO XỨ GIA CHIỂU






Lm. Gioan Võ Đình Đệ

I. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ
Từ Tòa Giám Mục Qui Nhơn theo hướng Nam ra Bắc trên quốc lộ số 1, qua khỏi cầu Dợi khoảng 100 mét, rẽ trái về hướng Tây, trên con đường lên nguồn nhiều khúc quanh co sẽ đến thị trấn Tăng Bạt Hổ, huyện Hoài Ân, cách cầu Dợi 11km, cách Tòa Giám Mục 95 km. Nhà thờ Gia Chiểu toạ lạc trên đường 19 tháng 4, thôn Gia Chiểu, thị trấn Tăng Bạt Hổ, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Phần đất giáo xứ Gia Chiểu ngày nay bao gồm giáo xứ Đồng Quả và Đồng Dài ngày xưa.
II. LƯỢC SỬ
Vùng đất thuộc giáo xứ Gia Chiểu đã được các thừa sai Dòng Phanxicô đến loan báo Tin Mừng từ đầu thế kỷ 18. Năm 1726, Đức cha Phanxicô Perez, Giám mục Giáo phận Đàng Trong (1684-1728) đã lập một nhà thờ kính Tổng Lãnh Thiên Thần Micae tại Đồng Hâu. Trong thống kê tình hình Giáo phận năm 1850 của Thánh Giám mục Stêphanô Cuénot Thể, vị Giám mục thứ 10 của Giáo phận, có Đồng Hâu Đông: 350 tín hữu; Đồng Hâu Tây: 246 tín hữu, là 02 trong số 15 giáo điểm thuộc vùng Bồng Sơn Miền Núi[1] .
      Sau phong trào Văn Thân, từ năm 1889-1900 nhiều gia đình xin gia nhập Kitô giáo, các giáo họ được thành lập trong thời điểm nầy là Gia Chiểu, Linh Chiểu, An Chiểu, Đức Long, An Thoại, An Đông, tất cả trực thuộc giáo xứ Thác Đá. Gia Chiểu được chọn làm cư sở của các linh mục, nhà thờ Gia Chiểu đầu tiên do cha Phêrô Phan Nho (1867 - 1935) xây dựng. Tháng 06 năm 1914, Gia Chiểu được tách khỏi giáo xứ Thác Đá, nhập về giáo xứ Đồng Quả.
      Năm 1939, các giáo họ Gia Chiểu, Đồng Hâu, Gò Dê được tách khỏi giáo xứ Đồng Quả lập thành giáo xứ Gia Chiểu.
- Các linh mục quản xứ Gia Chiểu:
1.      Cha Phêrô Nguyễn Sĩ Tư được bổ nhiệm làm cha sở tiên khởi của Gia Chiểu. Cha làm việc tại đây từ năm 1939-1946.
2.      Cha Phêrô Trần Anh Tước ( 1946-1956 )
3.      Cha Gioan Baotixita Nguyễn Đức Quảng ( 1956-1972 )
      Từ năm 1965 - 1975 các huyện phía Bắc tỉnh Bình Định: Hoài Ân, Hoài Nhơn và An Lão, là vùng chiến tranh ác liệt. Các giáo xứ trong vùng dần dần không còn tên trong bản thống kê của Giáo phận. Riêng giáo xứ Gia Chiểu còn sinh hoạt đến mùa hè năm 1972, nhưng phần đông giáo dân đã di tản, chỉ còn ở lại số nhỏ 297 người. Cuối năm 1972, nhà thờ đã bị đạn bom loang lỗ, giáo dân tản lạc. Từ đây giáo xứ Gia Chiểu cùng đau đớn với các giáo xứ trong vùng: bị xóa tên trong thống kê hằng năm của giáo phận.
4.      Từ năm 1975 đến nay các cha sở Đại Bình chăm sóc mục vụ.
      Sau ngày 30/04/1975, hầu hết số giáo dân di cư đã ổn định công ăn việc làm, chỉ có một số ít trở về quê sinh sống với ruộng vườn. Trong chiến tranh, tất cả các cơ sở của giáo xứ trở thành hoang phế. 07 giáo xứ trong vùng chỉ còn lại giáo xứ Đại Bình là trung tâm sinh hoạt phụng vụ của bà con giáo dân.
      Ngày 31/7/2000, Tòa Giám Mục gởi đơn xin xây dựng nhà thờ tại Gia Chiểu. Sau thời gian hiệp thương, chính quyền địa phương đề nghị 02 vị trí trong thị trấn Tăng Bạt Hổ, huyện Hoài An, để Toà Giám Mục chọn lựa, vì vị trí nhà thờ cũ đã được nhà nước xây dựng các cơ quan. Đức Giám mục thành lập đoàn khảo sát thực địa do chính ngài làm trưởng đoàn. Sau khi khảo sát và tham khảo ý kiến các linh mục trong đoàn, Đức giám mục quyết định chọn vị trí khu đất như ngày hôm nay.
      Ngày 08/10/2004, Tòa Giám Mục đã nhận được quyết định số 2858/QĐ-CTUB của UBND tỉnh Bình Định giao 5.320 m² đất tại thôn Gia Chiểu, thị trấn Tăng Bạt Hổ, huyện Hoài An, để xây dựng nhà thờ, nhà xứ và nhà sinh hoạt.
      Ngày 01/12/2004, quyết định số 3183/ UB - NC của UBND tỉnh Bình Định cho phép Toà Giám Mục Qui Nhơn xây dựng mới nhà nguyện tại thị trấn Tăng Bạt Hổ, huyện Hoài Ân.
       Ngày 25/01/2005, giấy phép xây dựng số 05/ GPXD của Sở Xây Dựng tỉnh Bình Định cấp cho Toà Giám Mục xây dựng các hạng mục tại nhà thờ Gia Chiểu: Nhà thờ, nhà xứ và nhà sinh hoạt.
       Trong thời gian tiến hành các giấy tờ hành chánh, hai gia đình có đất và nền nhà trong khu đất được giao cho Toà Giám Mục không chấp thuận việc đền bù, giải toả của chính quyền. Toà Giám Mục phải chờ đợi đến đầu năm 2007 chính quyền địa phương và hai gia đình nầy mớigiải quyết ổn thỏa.
       Ngày 12 tháng 3 năm 2007, Phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện Hoài Ân cùng các cơ quan và các ban ngành liên hệ đã tiến hành đo đạc thực địa, cắm mốc giao đất cho Toà Giám Mục.
       Ngày 04/4/2007, Sở Xây Dựng Bình Định cấp giấy phép gia hạn số 24/GPXD với nội dung như giấy phép xây dựng số 05/ GPXD ngày 25/01/2005.
       Ngày 11/4/2007, khởi công xây dựng tường rào khuôn viên khu đất.
       Ngày 23/5/2007, khởi công đào móng xây dựng nhà thờ.
       Theo kế hoạch, mỗi gia đình sẽ đóng góp ngày công theo chu kỳ vòng tròn cho đến khi hoàn tất công trình. Ngày khai móng xây tường, những khuôn mặt hốc hác sạm nắng và đôi tay gân guốc của chủ chăn cũng như đoàn chiên đã toát ra niềm hạnh phúc, vì nỗi khát khao có một nơi sum họp thờ phượng Chúa và hôm sớm được Chúa Giêsu Thánh Thể ủi an nay đang được hình thành.
       5. Cha Giuse Nguyễn Đình Bút thụ phong linh mục ngày 04/03/2005 và được bổ nhiệm làm phó xứ Đại Bình. Ngày 02/04/2008, Đức Giám mục giáo phận đã bổ nhiệm cha Giuse Nguyễn Đình Bút, một người con lớn lên trong lòng của quê hương Hoài Ân, đã từng thâm cảm nỗi niềm của bà con quê mình, đến ở biệt lập tại Gia Chiểu. Hôm nay, ngày 22.09.2009, Đức Giám mục Giáo phận đã quyết định tái thành lập giáo xứ Gia Chiểu và bổ nhiệm Cha Giuse Nguyễn Đình Bút làm cha sở.

Hiện tình giáo xứ Gia Chiểu:
Stt
GIÁO HỌ
NHÀ THỜ
NHÀ NGUYỆN

Xây dựng
Hiện trạng
gdân
1
GIA CHIỂU
lâu
đang xây
71
261
2
Phú Trị
chưa
không có
25
110
3
ĐỒNG QUẢ
lâu
còn nền
28
107
4
Đồng Quả Hạ
lâu
còn nền
65
303
5
Hội Tĩnh
lâu
còn nền
16
70
6
Đồng Gí
lâu
mất vết tích
13
55
7
Gò Dê
lâu
còn nền
22
79
8
Đồng Hâu
lâu
còn nền
27
99
9
Ngãi Điền
lâu
còn nền
87
368
10
Truông Ổi
lâu
còn nền
20
84
11
ĐỒNG DÀI
lâu
còn nền
22
82
12
Long Quan
lâu
xây cơ quan
3
7
TỔNG CỘNG
399
1625

     
 III. LINH MỤC, TU SĨ XUẤT THÂN TỪ GIÁO XỨ
- Xuất thân từ giáo họ Đồng Hâu
1. Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Do (1823 - 1872)
       Trong thời kỳ cấm đạo của triều đình Minh Mạng, cha Stêphanô Cuénot Thể được tấn phong Giám mục ngày 03/05/1835 tại Singapore và được bổ nhiệm làm Giám mục phó Giáo phận Đàng Trong. Trước khi Đức cha Cuénot về đến Gò Thị, Đồng Hâu là một trong những nơi an toàn được vinh dự đón Đức cha Cuénot Thể đến ẩn trú. Trong thời gian Đức cha trú ẩn tại Đồng Hâu, cậu Phanxicô Xaviê Nguyễn Do là người địa phương được chọn giúp việc cho Ngài. Người được chọn giúp việc cho Đức cha, năm 1848 được Đức cha chọn làm thầy sáu Do, rồi cha Do hay còn được anh em Dân tộc Tây Nguyên gọi là cha Lành, rất cụ thể như bản tính hiền lành của cha.
       Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Do, một người được Thiên Chúa tiền định cho công cuộc truyền giáo Tây Nguyên của vị Giám mục truyền giáo, Đức cha Cuénot Thể. Sau nhiều lần thất bại trong việc mở các nẻo đường đem Tin Mừng đến Tây Nguyên, Đức cha Cuénot quyết định chọn thầy Do vừa mới từ chủng viện Pinang trở về làm người mở đường truyền giáo Tây Nguyên qua ngõ Trạm Gò, An Sơn. Lên đường thi hành chỉ thị của Giám mục, thầy sáu Do với bộ quần áo rách rưới được ông Quyền, một lái buôn tại An Sơn nhận làm người chăn nuôi gia súc cho ông, một công việc mà ngày xưa đã làm cho đứa con hoang đàng rơi nước mắt, là nỗi cơ cực anh ta phải gánh chịu vì thiếu tình yêu (x. Lc 15,11-20). Ngược lại, ngày nay công việc ấy làm cho thầy Sáu hạnh phúc, vì đó là niềm vui của một con tim tràn đầy yêu thương, yêu thương các linh hồn, vâng yêu thánh ý Chúa qua lời chỉ dạy của Giám Mục. Từ người chăn nuôi gia súc tại gia đình đến người đầu bếp cho ông lái buôn rày đây mai đó trong các buôn làng Dân tộc, thầy sáu Do học tiếng Dân tộc, biết được ngõ ngách giao thông, người con đất Đồng Hâu trở thành người tiên phong khai mở thành công con đường phát triển và truyền giáo Tây Nguyên. Thầy Thám, em ruột thầy sáu Do, nối bước chân người anh dẫn đường đoàn truyền giáo thứ hai là cha Dourisboure và cha Desgouts lên Tây Nguyên xây dựng nông trường đầu tiên tại Kontum vào năm 1856.
            2. Cha Giacôbê Nguyễn Hữu Thiên (1892 - 1947)
3. Ba linh mục và một nữ tu trong một gia đình:
           Trước phong trào Văn Thân 1885, Đồng Hâu cũng như Gò Dê, mỗi giáo họ trên 400 tín hữu. Sau Văn Thân, Đồng Hâu còn 38 và Gò Dê còn 17 tín hữu. Trong số những người còn sống sót có gia đình thầy Ba Đàn (thầy thuốc) đã cung cấp cho Hội Thánh 03 linh mục và 01 nữ tu:
               3.1. Cha Simon Nguyễn Chính (1856 – 1919), một nhà truyền giáo, lập các họ đạo dọc theo quốc lộ 19 như Đông Viên, Mỹ Ngọc, Trường Cửu, Hòa Tân, Đông Lâm, Trán Long, Nhơn Nghĩa, Thủ Thiện và viết nhiều sách giáo dục – truyền giáo như: Thánh Đạo Đại Nguyên, Con nít học nói, Tự vị nho, Thiên Chúa luận, Gương tốt đồng nhi...
               3.2. Cha Antôn Nguyễn Toàn Chân (03/02/1876 – 18/01/1966), là bậc sư biểu trong giáo giới, làm giáo sư chủng viện từ khi thụ phong linh mục cho đến khi hưu dưỡng. Môn sinh của ngài có 04 Giám mục và hơn 150 linh mục phục vụ trong giáo phận Qui Nhơn, Kontum, Nha Trang và Đà Nẵng.
                3.3. Cha Tôma Thiềng (1887 - 1941), có tiếng là một linh mục thánh thiện.
                3.4. Nữ tu Marie Mélanie Nguyễn Thị Đồng (1896 -  08/9/1963), Bề trên người Việt đầu tiên của Hội Dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn [2] .
- Xuất thân từ giáo họ Gia Chiểu:
1. Cha Phêrô Lê Nho Phú
-  Xuất thân từ Đồng Quả (giáo xứ cũ):
Giáo họ Đồng Quả (Kim Sơn ):
1. Cha Phêrô Nguyễn Kỳ Hội (1916 – 1984).
2. Cha Phaolô Nguyễn Thanh Bình (1920 – 2007).
3. Cha Inhaxiô Nguyễn Văn Bảo, Dòng Chúa Cứu Thế, (1921 – 1974).
4. Nữ tu Brigitte Nguyễn Thị Trọn, Dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn.
       Giáo họ Phú Hữu ( Đồng Quả Hạ):
5. Cha Simon Nguyễn Kim Ngọc (1911 – 1979).

Giáo họ Hội Tĩnh:
6. Nữ tu Anna Nguyễn Thị Như Hồng, Dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn.
Giáo họ Ngãi Điền:
7. Cha Simon Huỳnh Tấn Công (1919 – 2003).
8. Cha Giuse Nguyễn Đình Bút
- Xuất thân từ Đồng Dài (giáo xứ cũ)
1. Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Xuân Văn (1922 – 2002)
          IV. THAY LỜI KẾT
          Khí thiêng núi rừng hùng vĩ của nhánh núi Kim Sơn thuộc dãy Trường Sơn và sự trái ngược phong thủy thường xuyên của các nhánh sông Lại Giang giữa hai mùa mưa nắng, như đã rèn cho người dân trong vùng tính bền bỉ, điềm tĩnh trước những thử thách của cuộc đời:
                  Đã cam tháng đợi năm chờ,
      Duyên em đục chịu, trong nhờ, quản bao.
           Cảnh thiên nhiên ấy cùng với ơn Thánh Thần đã hun đúc tinh thần đức tin của các tín hữu trong vùng. Nối gót cha ông, đoàn tín hữu giáo xứ Gia Chiểu hôm nay đang viết tiếp trang sử đức tin của mình.
“Con chúc tụng Chúa hằng thương chỉ dạy,
Ngay cả đêm trường, lòng dạ nhắn nhủ con.
Con luôn nhớ có Ngài trước mặt,
Được Ngài ở bên, chẳng nao núng bao giờ”. (Tv 15,7-8)




[1] Xem Mémorial Mission de Qui Nhơn, số 58/1909, tr. 151.
[2] Xem Thông tin Địa phận, số 47, tr. 43-48

Thứ Năm, 3 tháng 3, 2011

THƯ MỤC VỤ MÙA CHAY 2011 CỦA HAI ĐỨC GIÁM MỤC GIÁO PHẬN QUI NHƠN


GỞI HÀNG LINH MỤC, TU SĨ NAM NỮ, CHỦNG SINH
VÀ ANH CHỊ EM TÍN HỮU GIÁO PHẬN QUI NHƠN
NHÂN DỊP MÙA CHAY THÁNH NĂM 2011

          Anh chị em thân mến,

1. Chúng ta đang bước vào Mùa Chay thánh. Đây là thời gian rất quan trọng và quý giá cho đời sống thiêng liêng của Giáo Hội và mỗi người tín hữu. Theo Qui luật năm phụng vụ và niên lịch trong sách lễ Rôma (AC) số 27, “Phụng vụ Mùa Chay giúp các dự tòng và các tín hữu cử hành Mầu nhiệm Vượt Qua. Các dự tòng được chuẩn bị qua những giai đoạn khác nhau của việc nhập đạo, còn các tín hữu thì qua việc tưởng niệm Bí tích Thánh Tẩy và việc sám hối”.
Hành trình Mùa Chay kéo dài 40 ngày trước Tam Nhật Vượt Qua hết sức ý nghĩa. Đối với các dự tòng, đây là thời gian chuẩn bị gần cho tâm hồn đón nhận ơn thánh làm con Chúa qua việc lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy trong đêm Vọng Phục Sinh. Còn đối với anh chị em tín hữu, Mùa Chay là thời gian thuận tiện, để hồi tâm và ý thức phẩm giá mình là con cái Chúa nhờ Bí Tích rửa tội đã lãnh nhận. Sau nữa Mùa Chay còn thôi thúc chúng ta phải ăn năn, hoán cải để từ đó khơi dậy nguồn thánh thiện, sốt sắng trong tâm hồn, hầu đón nhận niềm vui Chúa Phục Sinh.
2. Theo Lời Chúa hướng dẫn và truyền thống xưa nay của Giáo Hội, trong Mùa Chay, chúng tôi tha thiết mời gọi anh chị em hãy siêng cầu nguyện sốt sắng, ăn chay hãm mình và làm việc lành phúc đức. Đó là các việc luôn đem lại giá trị hiện thực và không bao giờ lỗi thời.
Trước hết, nhờ cầu nguyện, mối tương giao giữa ta với Chúa ngày càng khắng khít hơn, đồng thời nhắc nhớ ta thuộc về Chúa, làm con Chúa, Chúa yêu thương ta và muốn ta được sống đời đời. Trong xã hội hiện đại con người tất tả làm việc để mau có tiền của, nhiều người trong chúng ta không còn coi trọng các việc đạo đức thiêng liêng; dần dần việc bỏ đọc kinh và tham dự Thánh Lễ trở nên bình thường từ người lớn cho đến trẻ em. Xin các bậc làm cha mẹ cố gắng sống làm gương và nhắc nhở con cái trong việc tham dự Thánh Lễ, đọc kinh cầu nguyện. Chúng ta phải can đảm để biết dành thời giờ cho Chúa, nhất là qua việc đọc kinh cầu nguyện và tham dự Thánh Lễ. Anh chị em hãy xác tín rằng thời giờ dành cho Chúa cần phải được ưu tiên và đó là thời gian đem lại ích lợi lớn lao nhất cho cuộc sống đời nầy lẫn đời sau vì «không có Thầy, chúng con không làm được gì» (Ga 15,5).
Tiếp đến, anh chị em nhớ rằng việc ăn chay hãm mình là một cách thế hữu hiệu giúp ta thông phần vào cuộc khổ nạn của Đức Kitô, trở nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết hầu hy vọng được Phục sinh với Người (x. Pl 3,10). Ngày nay Giáo Hội đã giảm thiểu việc ăn chay kiêng thịt, nhưng không vì thế mà coi nhẹ tinh thần hy sinh hãm mình. Trong bầu khí của một xã hội kích thích con người tiêu dùng và hưởng thụ như hiện nay, việc ăn chay hãm mình càng trở nên cấp bách hơn đối với chúng ta. Để hiệp thông mật thiết với Chúa và với nhau, con tim chúng ta phải thanh thoát khỏi những ràng buộc đam mê trần tục và gánh nặng vật chất. Trong Mùa Chay nầy mỗi người hãy tự dốc lòng chừa cải ít nhất một thói hư tật xấu nào đó như: rượu chè, cờ bạc, dâm ô, gian dối, trộm cắp, ươn lười,…
Sau cùng, đi đôi với cầu nguyện và ăn chay hãm mình, chúng ta còn phải xây dựng trọn hảo mối tương giao với người khác qua việc làm bác ái để vượt lên sự vị kỷ, chỉ nghĩ đến mình. Trong xã hội hiện nay sự tham lam sở hữu quá đáng về của cải vật chất đã kiến lòng người ra chai đá trong đó bạo lực, lạm quyền và hãm hại lẫn nhau đang gia tăng đáng báo động. Vì vậy, trong Mùa Chay nầy chúng tôi tha thiết mời gọi anh chị em hãy biết ra sức làm việc lành phúc đức nhất là quảng đại chia sẻ tiền của cho người khác. Anh chị em đừng ngại hy sinh đóng góp phần mình dù nhỏ bé cho việc bác ái để góp phần xoa dịu đau khổ của người bất hạnh.
Tóm lại, «qua những việc thực hành truyền thống như ăn chay, làm phúc, cầu nguyện, là những biểu hiệu của sự dấn thân hoán cải, Mùa Chay dạy chúng ta cách sống tình yêu của Chúa Kitô một cách quyết liệt hơn» (Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, Sứ Điệp Mùa Chay năm 2011, số 3).
3.  Chúng tôi mời gọi mỗi giáo xứ, mỗi cộng đoàn hãy quý trọng thời gian quý giá và thánh thiện nầy để tìm những sáng kiến thích hợp trong việc tổ chức tĩnh tâm, cầu nguyện chung, hy sinh hãm mình và tích cực thực thi bác ái. Còn những người có trách nhiệm trong gia đình hãy dốc lòng cùng nhau đọc kinh chung, siêng năng tham dự Thánh Lễ, lắng nghe Lời Chúa, giúp đỡ những người láng giềng nghèo khổ về vật chất cũng như tinh thần. Tháng Ba, Giáo Hội tôn kính Thánh Giuse, bổn mạng của giáo phận Qui Nhơn, Ngài là gương mẫu về đời sống cầu nguyện, âm thầm hy sinh và vâng phục thánh ý Chúa một cách anh hùng. Chúng ta xin phó thác giáo phận chúng ta cho Thánh Cả Giuse. 

Cầu chúc anh chị em một Mùa Chay thánh thiện và được hưởng niềm vui lớn lao Chúa Phục Sinh.



Tòa Giám Mục Qui Nhơn, ngày 01 tháng 03 năm 2011

       X Phêrô Nguyễn Soạn
                 Giám mục giáo phận Qui Nhơn

    
       X Matthêô Nguyễn Văn Khôi
                Giám mục phó giáo phận Qui Nhơn