Thứ Tư, 23 tháng 2, 2011

GIẢNG LỄ ĐẶT VIÊN ĐÁ ĐẦU TIÊN NHÀ THỜ PHÚ MỸ, QUẢNG NGÃI

LỄ KÍNH TÔNG TÒA THÁNH PHÊRÔ
Đặt viên đá đầu tiên xây dựng nhà thờ Phú Mỹ, giáo xứ Kỳ Tân, Quảng Ngãi
Ngày 22 tháng 02 năm 2011
(Is 56,1-7; 1Cr 3,9-13.16-17; Mt 16,13-19)



Đức Cha Matthêô Nguyễn Văn Khôi

Hôm nay chúng ta cùng nhau qui tụ về đây để tham dự thánh lễ kính nhớ việc thiết lập Tông tòa thánh Phêrô, trong đó có nghi thức làm phép và đặt viên đá đầu tiên để khởi công xây dựng nhà thờ Phú Mỹ, giáo xứ Kỳ Tân, giáo hạt Quảng Ngãi.
Chúa Giêsu đã sinh ra và lớn lên tại xứ Do-thái. Ngài thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng và hoàn tất cuộc đời trần thế cũng tại đó. Tuy nhiên, trước khi về trời, Ngài đã truyền cho các môn đệ hãy đi khắp tứ phương thiên hạ rao giảng Tin Mừng của Ngài. Đạo Chúa đã bắt đầu được thiết lập tại Giêrusalem, để rồi sau đó theo sự thúc đẩy và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, bước chân các tông đồ đã vượt biên giới xứ Palestina để đến với những vùng đất xa hơn, cho đến tận Roma là thủ đô của đế quốc. Chính thánh Phêrô, vị tông đồ trưởng, sau thời gian hoạt động truyền giáo cho người bản xứ, cũng đã đến tận Roma để từ đó lãnh đạo Hội Thánh đang bành trướng khắp các tỉnh thành trong toàn đế quốc. Tại đây, ngài trở thành vị Giáo Hoàng tiên khởi trong lịch sử Kitô giáo và Roma trở thành nơi đặt ngai tòa của ngài.
Lễ kính Tông tòa thánh Phêrô nhắc chúng ta nhớ lại sứ mạng Chúa Kitô đã trao phó cho vị thủ lãnh các tông đồ. Nhờ đặc ân không sai lầm, thánh Phêrô là người bảo đảm đức tin của các anh em. Lòng tin của thánh Phêrô là đá tảng, trên đó Chúa Kitô đã xây dựng Hội Thánh của Ngài.
Thánh Phêrô là vị tông đồ có niềm tin vững mạnh đã được chính Đức Giêsu đặt làm người đại diện cho Chúa để chăn dắt đàn chiên của Ngài ở trần gian. Trong đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe hôm nay, chính Phêrô là người đại diện cộng đoàn các môn đệ để thưa với Chúa Giêsu: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Lời tuyên xưng ấy không phải tự ngài nghĩ ra, nhưng là do Chúa Cha soi sáng. Một người đã được Chúa Cha ban cho ơn soi sáng và niềm tin mạnh mẽ như thế thì chắc chắn đáng được giao trọng trách lãnh đạo Hội Thánh. Vì vậy, Chúa Giêsu đã nói với Phêrô: “Này anh Simon con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghĩa là tảng đá, trên tảng đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời: dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cới như vậy” (Mt 16,17-19).
Thực ra, chính Chúa Giêsu mới thực sự là Đá Tảng, vì Ngài là Thiên Chúa, như người Israel vẫn thường gọi Thiên Chúa là Đá Tảng của họ, nơi Ngài họ tìm được sự ẩn náu vững chắc. Chính Chúa Giêsu cũng đã tự ví mình như tảng đá góc tường, trên đó xây dựng tòa nhà kiên cố. Tòa nhà ấy chính là Hội Thánh, vững vàng qua muôn thế hệ, trước mọi phong ba bão táp hay sức tàn phá của trần gian. Chính Ngài là Đấng Bầu Chữa, là nơi các kitô hữu nương thân. Chính Chúa Giêsu là Đá Tảng không thể lay chuyển được, là nền tảng. Không ai có thể đặt nền tảng nào khác ngoài nền tảng đã đặt sẵn là Đức Kitô, như lời thánh Phaolô đã khẳng định trong bức thư thứ I gửi giáo đoàn Côrintô ở bài đọc II.

Thế nhưng, qua lời tuyên xưng niềm tin sắt đá của Phêrô, Đức Kitô đã chính thức đặt Phêrô làm người đại diện cho Ngài ở trần gian và ban cho Phêrô được tham dự vào cương vị Đá Tảng của Ngài, để Phêrô được nên vững chắc nhờ sức mạnh của chính Đức Kitô, để những gì Đức Kitô có được do quyền năng riêng thì Phêrô cũng có chung với Ngài nhờ được chia sẻ quyền năng ấy. Vì thế Ngài đã đổi tên Simon thành Phêrô, nghĩa là Đá. Đá là vật cứng rắn, tồn tại và không thay đổi qua thời gian. Xét trên phương diện tự nhiên, Phêrô cũng chỉ là một con người xác phàm yếu đuối và dễ thay đổi như bao người khác. Tuy nhiên, ơn Chúa và sứ mạng được giao phó đã khiến Phêrô trở nên vững vàng chắc chắn, nên điểm tựa cho mọi người trong đức tin trước mọi cơn sóng gió. Như một ngôi nhà được xây trên đá, gió bão có thổi đến, nước lũ có ùa vào, nhà ấy vẫn đứng vững không sập, thì Hội Thánh Chúa Kitô cũng thế, ngay cả quyền lực tử thần cũng không thắng nổi. Suốt thời kỳ bách hại của các hoàng đế Roma, bóng tử thần lảng vảng trên từng ngôi nhà của các kitô hữu, nhưng tất cả họ đều không hề sợ chết, vẫn một mực tuyên xưng niềm tin của mình, nhờ sự gìn giữ của Chúa, nhờ sự chăn dắt dũng cảm, sự nhiệt thành tận tụy và gương sáng đức tin của thánh Phêrô, cũng như của  những đấng kế vị ngài và các vị chủ chăn khác.
Kính thưa cộng đoàn,
Nhà thờ Phú Mỹ giáo xứ Kỳ Tân của chúng ta sắp được khởi công xây dựng làm nơi qui tụ cộng đoàn các kitô hữu để lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện, cử hành các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể, qua đó thể hiện hình ảnh Hội Thánh tại địa phương. Nhà thờ cũng là biểu tượng niềm tin của dân thánh Chúa, trải qua bao cơn bão tố phũ phàng của những biến động lịch sử, niềm tin ấy vẫn nguyên vẹn và ngày càng lớn mạnh, để đến hôm nay một ngôi nhà thờ đồ sộ kiên cố sắp mọc lên như một bằng chứng hùng hồn của niềm tin bất khuất ấy.
Để khởi đầu công trình xây dựng này, hôm nay viên đá đầu tiên của ngôi nhà thờ sẽ được làm phép cùng với diện tích khu đất làm nơi tọa lạc của ngôi nhà thờ. Viên đá này tượng trưng cho Đức Kitô là đá tảng góc tường, trên đó tòa nhà Hội Thánh được xây dựng. Viên đá đầu tiên này sẽ nối kết các viên đá khác để trở thành ngôi đền thánh, cũng như Đức Kitô và vị đại diện của Ngài là Đức Giáo Hoàng nối kết các kitô hữu thành ngôi nhà Hội Thánh, một Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền.
Tính chất của đá là cứng rắn, tượng trưng cho tình yêu trung thành không thay đổi của Thiên Chúa đối với dân Ngài và đồng thời cũng nói lên lòng tin vững vàng không lay chuyển của cộng đoàn tín hữu đối với Ngài. Mỗi người tín hữu là một viên đá sống động và rắn chắc được xây trên nền tảng là chính Đức Kitô và trên đức tin của Hội Thánh dưới quyền lãnh đạo của đấng kế vị thánh Phêrô, đại diện Chúa Kitô ở trần gian.




Một ngôi nhà thờ kiên cố mọc lên cùng với một cộng đoàn tín hữu ngày càng lớn mạnh giữa một vùng đất thân thương, giữa những anh chị em đồng bào bên lương, phải là một tín hiệu đáng mừng của một mùa xuân tràn trề hy vọng, báo hiệu một mùa lúa dồi dào. Trong đoạn sách ngôn sứ Isaia mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc I, đền thờ Thiên Chúa được gọi là nhà cầu nguyện của muôn dân, tại đó ngay cả những của lễ hy sinh và lễ toàn thiêu của dân ngoại cũng được Ngài đoái nhận, và mọi người không phân biệt đều có thể tìm thấy niềm hoan hỉ nơi nhà cầu nguyện này.
Ngôi nhà thờ bằng gỗ đá mà cha sở Grêgôriô Lê Văn Hiếu và toàn thể cộng đồng dân Chúa giáo xứ Kỳ Tân đang nỗ lực xây dựng, không những để các tín hữu có nơi thờ phượng Chúa và thể hiện tình hiệp thông huynh đệ với nhau, mà còn là một cơ sở truyền giáo, là nơi đón nhận các anh chị em bên lương đến tìm gặp Chúa, để được Ngài chỉ dạy con đường sự thật và sự sống, để được Ngài an ủi nâng đỡ những lúc gặp đau khổ phiền muộn hoặc thất vọng. Để nhà thờ Phú Mỹ trở nên “giàu đẹp” đúng với tên gọi và có sức lôi cuốn đối với anh chị em lương dân, mỗi người tín hữu trong giáo xứ Kỳ Tân hãy cố gắng canh tân chính mình mỗi ngày, để trở thành “mới mẻ diệu kỳ” trước mặt mọi người chung quanh. Hằng ngày anh chị em hãy để tâm suy niệm lời thánh Phaolô trong bài đọc II của thánh lễ hôm nay: “Đền thờ Thiên Chúa là nơi thánh, và đền thờ ấy chính là anh chị em” (1Cr 3,17).

Thứ Hai, 21 tháng 2, 2011

THƠ HÀN MẠC TỬ DỊCH SANG TIẾNG PHÁP






Mộ Hàn Mạc Tử trên núi Ghềnh Ráng, Qui Nhơn



Hàn Mặc Tử tên thật Nguyễn Trọng Trí sinh năm Nhâm Tý, ngày 22.9.1912, tại Lệ Mỹ, Đồng Hới. Ông mắc bệnh cùi từ năm 1937, và mất tại nhà thương Qui Hoà ngày 11.11.1940, khi mới 29 tuổi. Hàn Mặc Tử có thơ Đường luật đăng báo từ năm 16 tuổi, nổi tiếng vì được cụ Phan Bội Châu hoạ thơ và đề cao. Các thi tập tiêu biểu gồm: Gái quê (1936, tập thơ duy nhất được xuất bản khi tác giả còn sống), Đau Thương (hay Thơ Điên), Thượng Thanh Khí, Cẩm Châu Duyên, Chơi Giữa Mùa Trăng... Một tuyển tập thơ Hàn Mặc Tử, 189 trang song ngữ Việt-Pháp, mang tên Le Hameau des Roseaux, (Đây Thôn Vỹ Dạ) do Hélène PérasVũ Thị Bích dịch, đã được nhà xuất bản Arfuyen ở Paris, ấn hành năm 2001. Hélène Péras là một bác sĩ phân tâm, đồng thời cũng là nhà thơ, giỏi tiếng Việt. Sau đây là lời bạt ở bìa sau, viết bởi nhà thơ Gérard Pfister được trích từ bản Việt ngữ của Thụy Khuê, Đài RFI:
“16 tuổi Nguyễn Trọng Trí đã làm thơ với các bút danh chớm mùi lận đận: Phong Trần, Lệ Thanh... đến 24 tuổi mới ký Hàn Mạc Tử. "Hàn Mạc Tử" là "chàng bức rèm lạnh" hay "chàng đơn lạnh". Tên ấy ứng với dự cảm về bốn năm cuối trên đỉnh thơ cô đơn lẻ lạnh của riêng ông. Cả cuộc đời ngắn ngủi, tan vỡ từ tuổi 24 vì bệnh cùi, Hàn Mặc Tử đã dành cho thơ, dành cho những tìm kiếm trinh trắng thiết tha giao hòa một tình yêu tuyệt vọng hướng về những người con gái đã xa, và cái cõi ngoài của tình yêu trần thế ấy, ở trong những bài thơ cuối cùng, Hàn Mặc Tử gọi là Thượng Thanh Khí. Cho tới tận cùng của vô vọng, thơ Hàn luôn luôn là một êm ái dịu dàng, một ánh sáng vô minh, một niềm vui huyền diệu làm cho Hàn rung động đến phút cuối. Hàn viết: "Vườn thơ tôi rộng rinh không bờ bến. Càng đi xa càng ớn lạnh".
Xin trích một vài bài thơ đã được dịch sang tiếng Pháp trong tập “Le hameaux des Roseaux”

Đây Thôn Vỹ Dạ

Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chử điền

Gió theo lối gió mây đường mây
Giòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai neo bến Sông Trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?

Mơ khách đường xa khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?

Voici le hameau des Roseaux

Pourquoi ne pas retourner au hameau des Roseaux
Voir le soleil levant sur les rangs d’aréquiers
Un jardin tout luisant comme de jade vert
Le visage parfait au travers des bambous.

Le vent suit le chemin du vent, les nuages la route des nuages,
Tristesse de l’eau qui coule, frémissement des maïs en fleurs,
À qui est cette barque à l’amarre là-bas aux rives de la lune
Et pourra-t-elle à temps la transporter ce soir?

Rêve le voyageur sur la route lointaine, lointaine...
Ta robe est par trop blanche, je ne la discerne pas
Ici les êtres sont voilés de brume et de fumée
Qui connaît la profondeur d’un tel amour?




Gái Quê

Xuân trẻ, xuân non, xuân lịch sự
Tôi đều nhận thấy trên môi em
Làn môi mong mỏng tươi như máu
Đã khiến môi tôi mấp máy thèm
Từ lúc tóc em bỏ trái đào
Tới chừng cặp má đỏ au au
Tôi đều nhận thấy trong con mắt
Một vẻ ngây thơ và ước ao
Lớn lên em đã biết làm duyên
Mỗi lúc gặp tôi che nón nghiêng
Nghe nói ba em chưa chịu nhận
Cau trầu của khách láng giềng bên.

La jeune fille du village

Le printemps jeune, tendre, sage,
Je le reconnais sur tes lèvres,
Tes lèvres fines, éclatantes de vie
Qui font frémir les miennes de désir
Depuis le temps où tu laissais les mèches de tes cheveux
Frôler tes joues vermeilles
J'ai toujours vu dans tes yeux
L'innocence et l'espoir
En grandissant tu as appris le charme
Chaque fois que tu me rencontres tu te caches
en inclinant ton chapeau
On dit que ton père ne consent pas encore
À recevoir de l'étranger voisin l'arec et le bétel.


Hồn là ai

Hồn là ai là ai tôi không biết
Hồn theo tôi như muốn cợt tôi chơi
Môi đầy hương tôi không dám ngậm cười
Hồn vội mớm cho tôi bao ánh sáng

Tôi chết giả và no nê vô vạn
Cười như điên, sặc sụa cả mùi trăng
Áo tôi là một thứ ngợp hơn vàng
Hồn đã cấu, đã cào, nhai ngấu nghiến

Thịt da tôi sượng sần và tê điếng
Tôi đau vì rùng rợn đến vô biên
Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm
Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực

Hai chúng tôi lặng yên trong thổn thức
Rồi bay lên cho tới một hành tinh
Cùng ngả nghiêng lăn lộn giữa muôn hình
Để gào thét một hơi cho rởn ốc

Cả thiên đường trần gian và địa ngục
Hồn là ai? là ai! tôi không hay
Dẫn hồn đi ròng rã một đêm nay
Hồn mệt lả mà tôi thì chết giấc.

Mon âme qui es-tu?

Mon âme qui es-tu? Qui? Je ne sais pas
Mon âme me suit comme si elle voulait me provoquer.
De ses lèvres parfumées je n’ose pas me délecter
Mon âme se hâte de me donner à la becquée des clartés sans nombre.

Rassasié, comblé, je tombe en syncope
Je ris comme un fou, suffoquant de toutes les odeurs de la lune
Mon vêtement est plus éblouissant que l’or
Mon âme m’a pincé, m’a griffé, me mâche voracement.

Ma chair et ma peau sont crues et rêches, engourdies, paralysées
J’ai mal, je tremble d’horreur.
Je plonge mon âme dans une flaque de lune paisible
Pour que la lune la submerge, afflue jusqu’à sa poitrine

Tous deux nous nous apaisons dans les sanglots
Puis nous nous envolons pour atteindre une planète,
Ensemble, chancelants, nous nous roulons au milieu de milliers d’images
Pour hurler à pleins poumons et donner le frisson
À tout le paradis, à ce monde et aux enfers. (...)


Say máu ngà

Lòng ta là một bài thơ mãnh liệt
Văng tung lên trên thế giới mông lung
Nức lời ra réo bao niềm bi thiết
Làm buồn lây lây đến cõi vô cùng

Ta đứng giữa không không kiêu ngạo
Há mồm ra hứng giọt mật trăng rơi
Rồi ngậm lấy hơi ngà trong tiếng sáo
Cho lưu thông khí huyết khắp thân người

Ta sầu lắm, một thứ sầu vô cớ
Cất cao lời gọi giật tiếng ma kêu
Đương xáng mạnh vào trong sườn núi lở
Làm giật mình mây nước cõi phiêu diêu

Ivresse furieuse

Mon cœur est un poème déchaîné
Lancé sur l’irréalité du monde
La parole hoquetante crie tant de désolation
Que la tristesse se propage à l’infini.

Fier je me tiens debout au milieu de l’éther
Bouche ouverte je recueille les gouttes de miel qui tombent de la lune
Puis je resserre mon souffle ivre dans le son de la flûte
Pour faire circuler la force de vie dans tout mon corps.

Je suis très triste, d’une tristesse sans cause
J’élève la voix pour appeler, je m’empare du cri des fantômes
Frappant avec vigueur le flanc des montagnes qui s’écroulent
Faisant trembler les mondes où volent les nuages.

Chủ Nhật, 20 tháng 2, 2011

VỀ BÀI CA DAO CÓ NHÂN VẬT MANG TÊN BỜM



Lê Huy Thực
Kiến thức ngày nay, số ngày 20/02/2011


Các thế hệ tiền bối đã chỉ dẫn cho con em, những lớp hậu sinh phải có phẩm chất thông minh, trí tuệ cả trong lao động sản xuất, và hoạt động xã hội nói chung, qua nhiều sáng tác dân gian. Một trong số đó là bài ca dao nổi tiếng có nhân vật chính diện trung tâm mang tên Bờm: “Thằng Bờm có cái quạt mo / Phú ông xin đổi ba bò chín trâu / Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu/ Phú ông xin đổi ao sâu cá mè / bờm rằng Bờm chẳng lấy mè / phú ông xin đổi một bè gỗ lim / bờm rằng Bờm chẳng lẩy lim / phú ông xịn đổi đôi chim đồi mồi/ Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi / phú ông xin đổi nắm xôi, Bờm cười''(*). Tiếp cận, phân tích, bình luận tác phẩm trên đã có nhiều ý kiến khác biệt, thậm chí là đối lập nhau khá gay gắt.


Có nhà nghiên cứu cho Bờm trong tác phẩm là người ''thích khoe, thích phô'' và vừa kiếm được ''cái quạt mo'' ''còn rất mới, rất đẹp''. Ý kiến của người viết tiểu luận này là ngược lại. Bởi vì cả bài thơ, câu nào cũng nhắc đến Bờm, nhưng không có một chữ nào diễn tả tính cách khoe khoang, phô trương của nhân vật ấy. Nói Bờm có tính cách không hẳn là xấu, nhưng chắc chắn là không đẹp, không đáng khen ấy (thích khoe, thích phô) là nói oan cho Bờm. Theo văn bản, thì Bờm không hề khoe, chẳng phô một tràng, một câu nào cả.
Tác giả bài ca dao cũng chỉ nói Bờm có cái quạt mo, chứ đâu cớ mô tả cái  vật phẩm không mấy giá trị đó là ''rất mới, rất đẹp''. Gán cho cái quạt mo của Bờm những trạng từ và tính từ đó là vô lý, không nên.
Đại để là có nhiều cách lý giải và hiểu khác nhau về bài ca dao có nhân vật Bờm nói trên. Theo tôi, Bờm tại thi phẩm nổi tiếng ấy thuộc lớp người lao động thấp hèn trong xã hội cũ. Người ta gọi Bờm là “thằng'', ngay cả cái tên Bờm cũng mang tính chất, ý nghĩa phiếm chỉ, và vật dụng của anh ta chỉ là cái quạt mo đi kiếm, nhặt được, không phải mua.
Gạ đổi cho Bờm nhiều thứ có giá trị lớn để lấy cái quạt mo của Bờm, có lẽ là vì kẻ giàu của, có quyền thế cần cái quạt mo ấy để dùng tạm vào việc gì đó thôi, chứ không phải để quạt cho mát, càng không phải là để làm đồ trang sức Phú ông đâu có thiếu loại quạt tốt đẹp hơn quạt mo!
Nhân vật Bờm trong thi phẩm, theo tôi, là người thông minh. Phú ông, một đại biểu của tầng lớp trên trong xã hội, hễ có dịp, điều kiện, thời cơ là bóc lột! cướp trắng trợn sức lao động, tài sản, v.v. của nhân dân lao động bằng nhiều cách, nhiều thủ đoạn tinh vi và không loại trừ dùng bạo lực cưỡng ép dân lành. Hắn ''xin đổi'', tỏ vẻ tử tế, đạo đức, đấy chỉ là lời lẽ hoa mỹ để che đậy bản chất bóc lột, chiếm đoạt vật phẩm, tài sản, v.v. của nhân dân lao động. Giả sử Bờm đồng ý đổi, đưa quạt mơ cho Phú ông và nhận lấy “ba bò chín trâu'', hoặc ''ao sâu cá mè'', hoặc ''một bè gỗ lim'', hoặc ''đôi chim đồi mồi'' của Phú ông thì chắc chắn là quạt mo của Bờm sẽ mất, nó thuộc về tay nhà giàu, còn trâu bò, hoặc ao cá, hoặc bè gỗ quý, hoặc đôi chim cảnh đắt tiền vẫn là của Phú ông. Con người lao động thuộc tầng lớp nghèo hèn, tận đáy trong xã hội cũ ấy làm sao có thể sử dụng được những tài sản cao giá đó chỉ sau mấy câu nói ''khẩu thiệt vô bằng'' của kẻ vừa có tiền của, vừa có quyền thế. Bờm đủ tinh táo, thông minh để nhận ra Phú ông là kẻ lừa gạt, nên đã khước từ nhiều tài sản rất quý giá, cần thiết cho anh cũng như cho quần chúng lao động mà y đã gạ đổi.  Bờm quyết không đổi quạt mo của minh để lấy những vật phẩm, tài sản đắt tiền đó vì tin rằng Phú ông sẽ vẫn đương nhiên sử dụng hoặc là đòi lại các thứ mà y đã đổi cho Bờm để lấy quạt mo, một cách chẳng khó khăn gì. Nhưng khi phú ông gạ đổi cho Bờm ''nắm xôi'' để lấy quạt mo, thì Bờm ưng thuận ngay. Anh cười, tiếng cười ở đây biểu lộ sự đồng ý, chấp thuận lời gạ gẫm của Phú ông. Nó còn chứng tỏ Bờm là con người lao động có trí thông minh, biết chối bỏ mọi vật phẩm cao sang không phải của mình, và biết chỉ nên hưởng thụ, sử dụng những gì nhỏ bé có thể tương xứng với lớp dân đen trong xã hội cũ đầy bất công, phi lý. Bờm trao quạt, nhận xôi và anh đáp ứng cho nhu cầu của cái dạ dày của mình luôn. Nắm xôi cao giá hơn cái quạt mo. Quạt mo có thể kiếm được không phải mua, còn nắm xôi thơm dẻo, món ăn khoái khẩu không chỉ của dân nghèo, mà còn là của tầng lớp thượng lưu, quan chức nữa. Bờm được ăn xôi là một sự may mắn. Bờm tiêu dùng xôi ngay. Phú ông đã thiệt trong cuộc trao đổi này, nhưng làm sao có thể đòi lại được cái món ăn khoái khẩu mà chàng trao kia đã xài và đang tiêu hóa rồi. Bờm dùng xôi một cách hoàn toàn không có lo ngại, sợ hãi gì hết.
Sự thông minh, trí tuệ của Bờm đã giúp anh có suy xét để đi đến hành động đúng, đem lại lợi ích, loại trừ được hậu hoạ. Bờm là người lao động biết suy xét trước sau và chọn việc làm có hiệu quả, chứ quyết không phải là kẻ thiển cận, tham ăn, ngốc nghếch, khờ dại, không hiểu biết gì như ai đó đã phán xử một cách võ đoán, đầy oan trái cho anh.
Với nội dung, ý nghĩa phân tích, bình luận ở trên, bài ca dao có nhân vật chính diện, trung tâm mang tên Bờm đã được tác giả của nó chuyển tải đến công chúng lao động một chỉ dẫn của cha ông chúng ta cho con em cùng các thế hệ nối tiếp của dân tộc rằng: mỗi người lao động cần phải có sự thông minh, trí tuệ trong cách chọn việc để làm và ứng xử xã hội. Gứa trị hiện thực này, cùng với nhiều khía cạnh, ý nghĩa về triết học (như vấn đề con người, tương quan giữa nhận thức và hành động, v.v.) đã làm nên sức sống trường cửu của thi phẩm rất nổi tiếng nói về Bờm và Phú ông, trong kho tàng ca dao về sinh hoạt xã hội Việt Nam.

(*) Hoàng Tiến Tựu, Bình giảng ca dao, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội, 2003, tr. 158-159