Thứ Tư, 25 tháng 4, 2012

MÀU TÍM HOA SIM - SẮC MÀU VĨNH CỬU



Trần Thanh Hà
vannghesongcuulong



Tôi rất thích câu của Đặng Tiến trong Vũ trụ thơ khi viết về Nguyễn Du như sau : Nghệ thuật là những gì còn lại khi định mệnh bị bôi xóa. Quả đúng như vậy, điều làm nên sự bất tử của người nghệ sĩ là những gì họ để lại cho đời, cho dù để tạo nên những kiệt tác không chỉ bằng trí tuệ, tài năng, cảm xúc mà còn có cả máu, nước mắt và biết bao hệ lụy của một cuộc đời. Hữu Loan và bài thơ Màu tím hoa sim là một hiện tượng như thế. 

Hữu Loan tên đầy đủ là Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916 quê ở Nga Sơn, Thanh Hóa. Bài thơ Màu tím hoa sim được sáng tác năm 1949 khi người vợ trẻ của ông, bà Đỗ Thị Lệ Ninh, qua đời. Lần đầu tiên thi phẩm xuất hiện trên tờ Trăm Hoa của Nguyễn Bính và mãi đến năm 1990 mới được in trong tập thơ cùng tên của Hữu Loan. Phận số của thi nhân và bài thơ cũng trái ngang như câu chuyện tình yêu trong tác phẩm. Nhưng xưa nay cái đẹp có thể bị quên lãng chứ không bao giờ bị tiêu diệt. Màu tím hoa sim đã khẳng định sức sống của nó bởi đơn thuần bài thơ không chỉ là hoàn cảnh cá nhân mà nó đã trở thành một biểu tượng của tình yêu và cái đẹp, chiến tranh và mất mát chia lìa, khát vọng hạnh phúc và bi kịch đời người… 

Viết về người thật, việc thật nên tình cảm của nhân vật trữ tình ngập kín trang thơ. Bài thơ là một trời tâm trạng. Từ những ngày quen nhau tình yêu thầm lặng, thiết tha, êm đềm và giản dị như tình anh em; rồi đến phút giây hân hoan, vui sướng trong ngày hợp hôn; Và biết bao âu lo, nhớ thương trong tháng ngày xa cách; để khoảnh khắc bàng hoàng khi nhận tin người vợ hiền đã mất biến thành xa xót theo suốt một đời…Những xúc cảm đối lập, trái chiều tiếp nối như diễn tả tâm trạng khó thể nói hết thành lời của một người từ thiên đường ngọt mật rơi xuống đáy sâu của chín tầng địa ngục. Cuộc đời, tình yêu, hạnh phúc phút chốc vụt khỏi tầm tay, còn rớt rơi lại một cành hoa tím ghi dấu một thời. Bài thơ là tiếng khóc, là thương đau nhưng không bi lụy vì nước mắt của tình yêu tan vỡ đã vẽ thành một loài hoa. Hoa sim trong thực tại bước vào trang thơ và trở thành một biểu tượng tình yêu. Hữu Loan không ví von tình yêu là những đóa hồng kiêu sa lộng lẫy mà chỉ là một bông hoa rừng đơn sơ khiêm nhường. Vẻ đẹp riêng biệt của loài hoa dại này đến từ cái mỏng manh như tình yêu ngắn ngủi, đến từ cái màu tím làm xao xuyến lòng người và đến từ một sức sống mãnh liệt khi nó bất chấp cảnh hoang vu của núi rừng, khô cằn của sỏi đá, khắc nghiệt của thời tiết để dâng hoa cho đời. Bài thơ diễn tả những cung bậc tình cảm tăng dần tới đỉnh điểm nỗi đau khi trái tim vỡ òa ngàn mảnh gửi trong từng cánh sim tím ngát trong chiều hoang biền biệt. Màu hoa sim ở đây là một nguồn mỹ cảm vì nó trở thành sắc màu thời gian, sắc màu thương nhớ. Dư âm của tình yêu, của cái đẹp và của niềm đau xót tràn trề suốt bài thơ tạo nên một sắc tím thủy chung, u buồn; bạt ngàn núi đồi, trùng trùng tiếc nuối… 

Bài thơ ra đời khi mảnh khăn tang còn trĩu nặng, khi nước mắt chưa khô nên lời thơ bật ra từ trái tim nát tan rất chân thành, rất thực và điều làm thổn thức tâm hồn người đọc cũng chính từ điều rất thực đó. Vậy nên, nhịp điệu câu chữ trong thi phẩm gắn chặt với cảm xúc của nhân vật trữ tình. Thể thơ tự do tạo ra một hiệu quả thẩm mỹ trong việc bộc lộ tâm trạng. Nếu có thể chia bài thơ thành ba đoạn với các nội dung : phần 1- kể vê tình duyên của chàng vệ quốc; phần 2 - kể về cái chết của người vợ trẻ; phần 3 - niềm đau khôn nguôi của nhân vật trữ tình thì cách tổ chức các câu thơ có nhịp điệu tương ứng. Cụ thể như sau : Phần 1chủ yếu tác giả sử dụng thể thơ 5 chữ diễn tả tâm trạng vui tươi hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ, nhịp thơ nhanh còn thể hiện không khí khẩn trương của lễ thành hôn diễn ra trong đợt nghỉ phép ngắn ngủi của người chiến sĩ. Đó còn là sự ra đi vội vàng của hạnh phúc. Ở phần 2, việc xen kẽ giữa câu thơ 2 chữ, 3 chữ và những dòng thơ 7, 8 chữ thể hiện thật sâu sắc cái trái ngang, trớ trêu của phận số và đồng thời cũng bộc lộ tâm trạng bàng hoàng, đau đớn của tác giả. Đến phần 3, nhà thơ sử dụng chủ yếu những câu thơ 7, 8, 9 chữ tạo nên dư âm da diết, buồn thương, âm hưởng câu thơ kéo dài như niềm tiếc nuối vô bờ. Những câu thơ dàn trải làm nên một không gian mênh mang của những đồi hoa sim dài trong chiều không hết và một thời gian bất tận của những ngày hành quân. 

Màu tím hoa sim hay không chỉ bởi những xúc cảm chân thành mà cái hay đến từ thi phẩm còn bởi nó gắn kết hài hòa tính tự sự, tính kịch và tính nhạc. Đây là điều mà hiếm nhà thơ nào cùng thời với Hữu Loan làm được. Trước hết, Màu tím hoa sim là một câu chuyện tình lãng mạn của một người lính kể về tình duyên của mình trên chặng đường hành quân. Đối tượng tự sự được giới thiệu ngắn gọn mà đây đủ : tôi và nàng, hoàn cảnh, tình cảm :


Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
Xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái 

Câu chuyện của những anh lính san sẻ cho nhau trong rừng hoang sương muối, trong phút giây chờ giặc tới không chỉ nối kết tình đồng đội hay mong ước vợi bớt cô đơn mà còn như lời trối trăn cho chút yêu thương để lại cõi đời khi không biết ngày mai ai còn, ai mất. Vậy nên, đó là những gì riêng tư sâu kín nhất, chân thành nhất…phải chăng cũng vì lẽ đó mà bài thơ đã phải chịu bao nỗi long đong và không ít lời chỉ trích khi nó ra đời? 

Tính chất tự sự của bài thơ được thể hiện qua những sự kiện quan trọng mang dấu ấn đậm nét theo trình tự thi phẩm. Đó cũng là cách kể của những ai khi mất mát người thân. Ta đã từng bắt gặp lối kể này trong thi phẩm Khóc Dương Khuê của cụ Tam Nguyên. Những sự kiện tái hiện trong kí ức lần lượt hiển hiện trên trang thơ vừa bộc lộ tâm trạng buồn đau trước sự mất mát không gì bù đắp nổi vừa vừa là những kỷ niệm đẹp đến tàn nhẫn của quá khứ khoét sâu vào mất mát hiện tại. Với Hữu Loan, quá khứ là màu áo tím dịu dàng, là mái tóc xanh người thiếu nữ, là nụ cười xinh xinh rạng ngời hạnh phúc của giai nhân và còn là vết bùn đất hành quân trên đôi giày người lính trẻ...


Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh
Bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo. 

Cái xinh xinhđộc đáo được đặt trong tương quan với quân nhân, giày đinh, hành quân – Tình yêu nảy nở và chịu thử thách trong thời chinh chiến. Các từ ngữ kết hợp lạ lùng báo hiệu những bất trắc, éo le không thể tránh thoát của con người. Bất ngờ sẽ xảy ra, chiến tranh là đồng nghĩa với mất mát, chết chóc, thương đau. Theo logic bình thường thì người nơi chiến trận ắt sẽ phải chịu nhiều nguy hiểm. Nhưng cái bất ngờ của bất ngờ là không chết người trai khói lửa mà chết người gái nhỏ hậu phương. Cái chết ập đến quá nhanh đã tạo ra kịch tính trong thi phẩm. Tính kịch trong bài thơ thể hiện qua nhiều mâu thuẫn, trái ngang bám theo con người; trớ trêu do con tạo bày ra như khẳng định chân lý ngàn đời : Con người có đủ sức mạnh, niềm tin, nghị lực để vượt qua tất cả nhưng không thể vượt qua định mệnh. Bài thơ xất hiện nhiều hình ảnh, sự kiện đối nhau chan chát : Từ chiến khu xa / nhớ về ái ngại / lấy chồng thời chiến binh / mấy người đi trở lại >< nhưng không chết / người trai khói lửa / mà chết / người gái nhỏ hậu phương; Má tôi ngồi >< bên mộ con đầy bóng tối; Chiếc bình hoa ngày cưới >< thành bình hương; Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc / được tin em gái mất >< trước tin em lấy chồng…Nhưng cái bi đát hơn cả của con người là những niềm mơ ước giản dị đôi lúc lại trở nên quá xa vời không thể nắm bắt, cái ta có mà tuột mất tự bao giờ. Như người con gái ấy chờ mong hạnh phúc, khát khao tình yêu và ngày trọng đại nhất một đời nàng cũng không đòi may áo mới; thế mà, người chồng sau lễ thành hôn phải ra trận; từng đêm trông chồng đã kết thúc bằng nấm mồ tàn lạnh. Còn người lính chiến chợt nghe câu ca dao xưa để nhận ra nỗi bẽ bàng của tình duyên : Áo anh sứt chỉ đường tà / vợ anh mất sớm mẹ già chưa khâu. Không phải là câu ca tình tứ thủa nào của chàng trai mượn sợi chỉ vá áo để kết duyên tơ hồng mà câu ca dao khi mang vào bài thơ nó được chứa đựng thêm nghĩa mới. Áo sứt chỉ như tình yêu dở dang, như cuộc đời đứt đoạn, như vết thương không được vá…vì thế cuối bài hình ảnh này được Hữu Loan lặp lại ở mức độ cao hơn : 

Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu. 

Dù lâu mà vết thương chẳng nguôi ngoai, đường chỉ nát là sự côi cút của một con người, cái trơ trọi của kiếp sống được thể hiện qua câu kết hẫng hụt. Nhưng người đọc có thể cảm nhận được tâm tư người viết qua cái kết mở ấy. Nếu như lời ca dao xưa Áo anh sứt chỉ đã lâu bộc lộ niềm mong mỏi hạnh phúc đôi lứa khi thấy cần Mai mượn cô ấy về khâu cho giùm; còn với Hữu Loan, dư âm nỗi đau còn vọng mãi theo thời gian mà thời gian không phải được đo bằng ngày, tháng, năm mà trở thành vô hạn được ghi dấu bằng bội số của chỉ nátdù lâu. Trong cái bội số của thời gian ấy niềm hy vọng tàn lụi, dù hy vọng mong manh đến nỗi không thể gọi tên là hy vọng mà chỉ là ví vọng, với vọng; và có cố thắp lên một niềm tin bé nhỏ nhưng cũng chẳng biết gửi vào đâu…Ba câu kết ngẩn ngơ và dang dở đã kết thúc một cách hoàn hảo mối tình ngắn ngủi và thương tâm của thi sĩ. Nhưng hơn là một bi kịch cá nhân. Bài thơ gây xúc động cho người đọc bởi nó chứa đựng bi kịch muôn đời của thân phận làm người. Đó là sự đối chọi không khoan nhượng giữa khát vọng và hiện thực; giữa sự sống và cái chết; giữa tình yêu và định mệnh…Mà trong đó bao giờ giai nhân cũng mang một dự cảm chẳng lành về phận số. Màu tím người con gái yêu thích như nhuốm màu thiên định : 

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
Một mình đèn khuya
Bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
Ngày xưa 

Một đoạn thơ thật lạ so với toàn bài, bởi Ngày xưa được nhắc đến 3 lần. Ngày xưa không chỉ là kí ức chứa đựng thời gian mà còn như khắc họa một vẻ đẹp ngàn đời của người thiếu phụ. Hình ảnh đêm khuya ngồi may áo cho chồng xuất hiện trong ca dao, trong thơ Trung đại là biểu tượng của người phụ nữ Việt Nam với phẩm chất cần cù, chịu thương chịu khó, khéo léo và đầy tình yêu thương…nhưng cũng là bao kiếp đời bạc mệnh của ngày xa xưa đó. Người con gái hiện lên qua đoạn thơ như một đóa sim rừng dịu hiền, nhỏ nhoi và mong manh quá! Làm sao cành hoa ấy chống chọi được bão tố cuộc đời? Đây còn là sự trùng hợp kỳ lạ giữa hiện thực và huyền thoại. Hữu Loan viết về những kỷ niệm có thật nhưng bản thân người thiếu phụ đã tự vận vào người cái phù du, hư ảo của kiếp sống để tạo thành một giấc mộng buồn. Huyền thoại về nàng tiên nữ xuống trần gian được hóa thân vào một loài hoa, câu chuyện về sự tích loài hoa tím đã mang đến cho bài thơ sắc màu liêu trai, huyền ảo. Và từ đó, trên bước đường hành quân, những đồi hoa sim trở thành nỗi ám ảnh như ẩn hiện dáng hình người vợ đã qua đời. Năm lần Hữu Loan viết về đồi sim với năm cung bậc khác nhau tạo thành một mảng màu ấn tượng với chỉ gam màu duy nhất :


Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
Tím chiều hoang biền biệt…
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết…
Màu tím hoa sim tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím. 

Chiều tím, hoa tím – tím cả không gian, tím cả hồn người. Điệp ngữ Những đồi hoa sim vừa có tính tạo hình khi vẽ nên một không gian dài rộng lại vừa là một biểu tượng nghệ thuật mang giá trị thẩm mỹ cao. Bởi, cái hữu hình Những đồi hoa sim tím đã biến thành cái vô hình Tím màu da diết; từ sắc màu cụ thể màu tím đã trở thành màu biểu trưng cho tình yêu, cho tâm hồn, cho nỗi lòng thi nhân khi nó biến thành màu của xúc cảm : Tím tình trang lệ rớm, Tím tình ơi lệ ứa. Và sắc màu ấy cộng hưởng với bóng tối, ráng vàng ma khiến cho chiều hoang càng thêm vắng, hồn hoang càng thêm lạnh. 

Màu tím hoa sim còn là bài thơ đầy âm hưởng. Giai điệu của thi phẩm được cất lên nhờ nhịp điệu linh hoạt của bài thơ. Cách tổ chức câu chữ trong từng phần và việc phối thanh hài hòa khiến người đọc có thể cảm nhận kết cấu toàn bài như một bản sonate hoàn chỉnh với khúc dạo đầu bay bổng nhịp nhàng của kèn clarinette ( thanh âm nhịp nhàng của thể thơ 5 chữ; cảm xúc rộn ràng, náo nức của ngày hợp hôn); đoạn giữa là sự phối thanh trái chiều của tiếng kèn trompette vang rền như khúc tráng ca và âm thanh lắng đọng, bi thương của tiếng dương cầm cùng điệu khoan nhặt, réo rắt tiếng vĩ cầm ( đó là bè trầm trong phút giây câm lặng của hình ảnh người mẹ ngồi bên mộ con đầy bóng tối, đó là những cơn sóng cuộn xé trong lòng thi nhân khi phút giây cuối không được thấy mặt nhau, đó là sự trào dâng trước nghịch cảnh của những người anh khi biết tin em gái mất trước tin em lấy chồng) ; và kết thúc là một bè trầm sâu lắng diết da của tiếng đàn alto hòa âm cùng tiếng dương cầm hiu hắt ( thanh âm lan tỏa từ những câu thơ dàn trải, từ những điệp khúc lặp mãi không thôi, từ nỗi lòng ngập tràn thương nhớ; có thể xem những đồi hoa sim là nền như tiếng dương cầm đệm lót cho tiếng đàn alto vang ngân – tiếng đàn ấy là khúc nhạc lòng của người quân nhân nức nở, nghẹn ngào, bi thiết). Giai điệu của thi phẩm còn được ngân lên nhờ tác giả đã sử dụng các từ láy kết hợp với phép nhấn rất hiệu quả. Nếu đoạn 1 là Tóc nàng xanh xanh, cười xinh xinh thì đoạn 2 là Ngày xưa, màu sim tím và đoạn 3 là Những đồi hoa sim, chiều hoang biền biệt…Đặc biệt đoạn thơ cuối cách lặp tữ ngữ, cú pháp với tần số cao đã tạo thành một điệp khúc gây ấn tượng mạnh với độc giả. Điều này có thể lý giải vì sao sau khi bài thơ của Hữu Loan ra đời đã có đến 3 nhạc sĩ phổ nhạc cho thi phẩm.( Phạm Duy, Anh Bằng và Dzũng Chinh). 

Cái đẹp của Màu tím hoa sim có được nhờ nó hội tụ được nhiều giá trị. Việc kết hợp giữa tự sự và trữ tình, tính thơ, tính nhạc và tính kịch đã biến bài thơ trở thành một siêu phẩm và vì thế nó cũng trở thành siêu giá trị. Phải chăng vì lẽ đó nó là bài thơ đầu tiên được mua bản quyền bởi một doanh nghiệp với giá 100 triệu. Nhưng có lẽ giá trị hơn, cao đẹp hơn là sắc tím không bao giờ tàn phai, sắc màu của tình yêu, sắc màu vĩnh cửu.

Thứ Ba, 24 tháng 4, 2012

MỘT VÒNG THÀNH PHỐ




Đinh Lê Na

“Thành phố” là một khái niệm không mới, có thể nói là đã xuất hiện cùng với đời sống con người, mang khá nhiều ý nghĩa đặc biệt.
Trong tiếng Anh, có nhiều từ được dùng để chỉ thành phố hay những nơi tập trung đông dân cư như: city, town, urban hay polis,… mà thích hợp với từng trường hợp khác nhau sẽ có cách sử dụng thú vị riêng. Chẳng hạn, ta hãy xoay quanh khái niệm “polis” để qua đó tìm hiểu “thành phố” đã biến đổi như thế nào.
Theo tiếng Hy Lạp cổ, “polis” thường được hiểu theo nghĩa “thành bang (city-state)”, là đơn vị hành chính cơ bản của nhà nước thành bang Hy lạp cổ đại. Mỗi polis đều có một bộ máy cai trị, nơi đặt ra các luật lệ nhà nước (political) và xây dựng quân đội nhằm mục đích bảo vệ và xâm lăng. Mục đích này được duy trì từ lúc sơ khai đến kết thúc thời Trung Cổ ở Châu Âu, giai đoạn hình thành chiến tranh cát cứ giữa các lãnh thổ/thành phố với nhau. Từ đó, hình thành một số khái niệm khác như metropolis/metropolitan (thành phố mẹ) dùng làm hình mẫu cho thành phố thuộc địa.  Sang thế kỷ thứ 2, Con đường tơ lụa xuất phát từ Hàng Châu, Trung Quốc được xem là bước ngoặt tạo dựng mối giao thương vượt khỏi danh nghĩa quốc gia giữa các thành phố. Con đường tơ lụa trên biển, đến phiên mình, lại mở ra hình thức thành phố mới, thành phố Cảng (Quảng Châu, TQ thế kỷ thứ 7). Thời Phục Hưng (thế kỷ 5 đến 15) đưa thành phố trở thành cái nôi của kiến trúc, điêu khắc, hội họa, văn học và âm nhạc. Thời cận đại là sự ra đời của những thành phố công nghiệp, sản xuất lớn mà khởi đầu từ sự bùng nổ của hai cuộc cách mạng khoa học. Đến ngày nay, thế kỷ 21, là thời đại của những thành phố khổng lồ về quy mô dân số và diện tích. Một vài khái niệm mới như: metropolis (thành phố quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa của một nước (country) hoặc cả khu vực (region), có tính kiểu mẫu); metropolitan area (vùng thành phố (city) mở rộng ra ngoại ô (sub) và nông thôn (rural), có quan hệ chặt chẽ với nhau về mặt kinh tế, xã hội thể hiện qua việc đáp xe vào trung tâm (thông qua hệ thống metro) và công ăn việc làm); megalopolis (megapolis, megaregion, mạng lưới các “metropolitan area” được kết nối với nhau chẳng hạn bằng hệ thống tàu và đường cao tốc cực kỳ hiện đại); Global city (world city, nhấn mạnh vào tầm ảnh hưởng của thành phố đối với hệ thống kinh tế (đặc biệt là tài chính) toàn cầu);… đều để chỉ những vùng đô thị/thành phố như vậy.
Nhìn vào trục thời gian trên, có thể thấy đặc trưng mỗi thời kỳ dẫn đến sự ra đời của mỗi loại thành phố mang những cá tính khác nhau tạo nên những màu sắc không gian riêng. Jesuralem đầy màu sắc tôn giáo của thời khai sinh đạo Cơ đốc. Singapore của những tòa nhà cao tầng trong chính sách của thời lập quốc. Hay New York tham vọng từ những kẻ đầu tiên khai phá nên vùng đất của hải cảng tự nhiên lớn nhất thế giới [1] Xét mặt thành phố nói chung, thử điểm qua một vài loại thành phố trong lịch sử. Thành phố thành bang thời kỳ đầu lịch sử với mục đích bảo vệ chống kẻ thù mang những đặc điểm như chú trọng sức mạnh quân đội, xây tường thành cao và chắc chắn, (có thể có) hào sâu xung quanh, kiểm soát chặt chẽ và nghiêm ngặt ra vào cổng thành. Từ đó, mỗi thành phố cô lập như một pháo đài riêng biệt, phân chia rõ ràng ranh giới bên trong – bên ngoài. Bên ngoài là nguy hiểm, không ai bảo vệ; bên trong là an toàn, là tiệc tùng vui chơi, là âm nhạc và cả sự tuân thủ luật lệ. Thành phố cảng thời khám phá thế giới (bằng tàu) được nhận ra bởi vị trí địa lý; bởi tàu thuyền tấp nập, bởi những con người và hàng hóa từ khắp các nơi tụ về, mở ra một không gian khác của cầu cảng, của giao thương, buôn bán, của những luồng văn hóa mới, của không gian cởi mở. Thành phố toàn cầu (global city) ngày nay trở thành là nơi của kết nối, là những điểm nút quan trọng tỏa đi khắp thế giới, bất chấp biên giới địa lý quốc gia và bất chấp cả thời gian. Đó là nơi đặt trụ sở của các tập đoàn Quốc tế, là trung tâm tài chính, văn hóa, giáo dục, công nghệ mà tầm ảnh hưởng của nó không bao giờ giới hạn lại trong phạm vi một khu vực cụ thể nào. Thành phố, tự nó, đã biến đổi không gian từ một cá thể cô lập, sang một cá thể mở và một cá thể nối kết. [2]
Xét trên mật độ dân số, có thể thấy từ một nhóm nhỏ dân cư định cư trong một thành phố nhỏ Jericho, Ả Rập, nằm gần bờ sông Jordan từ khi trái đất kết thúc thời kỳ lạnh và hạn hán Younger Dryas, 9000 năm TCN, đến nay thành phố đã thực sự bùng nổ về dân số, là biểu hiện rõ nét nhất của sự gia tăng dân số toàn cầu. Một số thành phố có mật độ dân số cao như Mumbai, Ấn Độ (22,937ng/km2), Delhi, Ấn Độ (29,149 ng/km2), Seoul, Hàn Quốc (17,288 ng/km2),… [3]. Ban đầu, phải mất 250,000 năm, dân số nhân loại mới đạt được mức 1 tỉ người vào khoảng đầu thế kỷ 19. Hơn một thế kỷ sau đó, vào khoảng 1930, nhân số tăng gấp đôi lên tới 2 tỉ. Kể từ đó đến nay, dân số tăng nhanh chóng: khoảng 30 năm, dân số nhân loại tăng từ 2 tỉ lên tới 3 tỉ vào năm 1960. Tỉ thứ tư chỉ cần 14 năm và tỉ thứ năm và thứ sáu chỉ cần 13 năm và 12 năm. Giữa thế kỷ 19, cùng với vac-xin, việc xây dựng hệ thống cống rãnh và cải thiện vệ sinh, mà chủ yếu tập trung ở thành phố hay trung tâm đã làm giảm tỷ lệ tử vong do dịch tả, thương hàn, tạo nên một cột mốc cho sự gia tăng dân số thế giới. Sự gia tăng dân số nhanh chóng này, kéo theo những luồng dân di cư tập trung đến các thành phố lớn theo cả hai hướng nội quốc gia và xuyên quốc gia (cross-national immigration) và cũng với đó là sự mở rộng sâu quy mô thành phố: các tòa nhà chung cư cao tầng đặc kín người, các khu ngoại ô cách trung tâm cả chục/trăm km, các khu ổ chuột,…đặc biệt là với các thành phố ở các nước đang phát triển. Bộ mặt thành phố nói chung đã thay đổi từ hình thức đơn giản với cư dân địa phương, văn hóa bản địa và các vấn đề lãnh thổ được giải quyết bằng chiến tranh sang sự xung đột và dung hòa về văn hóa, lợi ích kinh tế, quan điểm tôn giáo với lực lượng nhập cư đa dạng; sự tranh giành giữa con người của nếp sống cũ và quá trình đô thị hóa, sự ảnh hưởng lẫn nhau bằng chính trị và kinh tế thay cho vũ khí,… đang diễn ra ngay trong cùng một địa điểm và thời gian [4].
---

[1] Đọc thêm “Bell, Daniel & De Shalit, Avner, The Spirit of the Cities – Why the identity of the city matters in a global age, 2011, Princeton university press, 360p” về cá tính của một số thành phố tiêu biểu được đề cập.
[2] Đọc thêm “Yifu, Tuan 1977,  Space and place – The perspectives of experience, Minneapolis, University of Minnesota Press, 237p.” về sự biến đổi không gian và địa điểm.
 [3] Số liệu năm 2009, lấy theo Wikipedia
[4] Theo chương 6 “Cities and urban life” trong “Giddens, Anthony 1938. Sociology 6th 2009. Policy press.”

Thứ Hai, 23 tháng 4, 2012

TIẾN BỘ KỸ THUẬT: PHÚC HAY HỌA?



 Bùi Văn Nam Sơn 

SGTT.VN - Thế giới kỹ thuật đang bao quanh chúng ta. Nó không chỉ giữ vai trò then chốt trong đời sống mà còn chi phối mạnh mẽ quan hệ của ta với tự nhiên, xã hội. Không thể bàn về văn hoá hiện đại và con người – kể cả người trí thức – trong nền văn hoá ấy mà không lưu ý đầy đủ đến tác động của kỹ thuật – công nghệ. Thế nhưng, ta thường lãng quên và càng ít có dịp suy nghĩ về nó.



Người thợ hớt tóc và máy gặt đập liên hợp 

Phần lớn nhân loại đang sống trong một “thế giới nhân tạo”. Hàng tỉ người suốt tuần, suốt tháng không đặt chân lên mảnh đất “thịt”, mà trên nhựa đường, bêtông, gạch men. Và hàng triệu người du hành khắp thế giới, nhưng không thấy phong cảnh, không biết gì về đất nước, thành phố mình vừa ghé qua, vì suốt ngày ngồi trong phòng hội nghị gắn máy điều hoà. Ngay cả phong cảnh cũng không hẳn là thiên nhiên nguyên sơ. Và lối sống trong thời đại công nghiệp không phút nào có thể tách rời với mạng lưới kỹ thuật cực kỳ phức tạp của những hệ thống sản xuất, phân phối và tiêu thụ: còn rất ít những hàng hoá và dịch vụ không cần đến sự trợ giúp của phương tiện kỹ thuật. Hàng tiêu dùng do những dây chuyền máy móc sản xuất; những máy móc ấy lại do những máy móc khác tạo ra; chúng kết thành một chuỗi tuần hoàn bất tận. Từ khi sinh ra đến khi chết đi, mấy ai trong chúng ta không lệ thuộc vào nền y học đã được kỹ thuật hoá đến cao độ? 

Trong kinh tế, vai trò của kỹ thuật càng có ý nghĩa quyết định. Tiến bộ kỹ thuật dần thay thế yếu tố lao động và thậm chí cả yếu tố vốn liếng trong sự phát triển kinh tế. Ai cũng biết kỹ thuật đã làm tăng năng suất lao động như thế nào, khi thử so sánh người thợ hớt tóc và một cỗ máy gặt đập liên hợp. Năm 1800, ở châu Âu, người ta cần 60 phút để gặt một công lúa mì bằng lưỡi liềm; năm 1945, chỉ cần 35 giây, kết hợp cả công đoạn đập lúa. Trong khi đó, tiền công lao động trung bình của một lao động thủ công đơn giản – điển hình là người thợ hớt tóc – hầu như không thay đổi suốt 150 năm qua! 

Hình ảnh người kỹ sư hay nhà kỹ thuật dưới mắt những người chuyên hoạt động “tinh thần” (các triết gia, văn nghệ sĩ v.v..) thường không mấy đẹp đẽ: họ bị xem là những người chỉ biết “lắp ráp”, chỉ tuân theo “lý tính công cụ” và quan tâm đến phương tiện và sự hiệu quả hơn là tra hỏi về ý nghĩa và mục đích. Sự cuồng nhiệt ấy làm suy giảm óc phê phán, thậm chí dẫn đến chỗ dễ dàng bị lạm dụng bởi những mục đích xấu xa, nguy hiểm. Thế nhưng, thực tế cho thấy, chính phương tiện chứ không phải mục đích đã làm biến đổi thế giới một cách triệt để và sâu sắc; chính kỹ thuật đã tạo ra những “sự thật” không ai có thể chối bỏ được khi nghĩ về tương lai. “Niềm đam mê của Faust đã vẽ lại khuôn mặt của trái đất”, ngay Oswald Spengler, nhà văn hoá luận bi quan, cũng phải nhìn nhận sự thật ấy! 

Tất nhiên, cũng có những “sự thật” khác. Sự gia tăng khổng lồ về năng suất lao động không hẳn đã giúp cho lao động của con người ngắn hơn, nhất là, lành mạnh hơn và thoải mái hơn. Nhiều nhà văn hoá sử nhận ra rằng ngay cuộc cách mạng thời đại đá mới – tức chuyển sang nền sản xuất nông nghiệp với nhịp độ lao động an toàn nhưng nhàm chán – không hẳn được cảm nhận hoàn toàn như một sự “giải phóng” khỏi cuộc sống bấp bênh và nguy hiểm của người săn bắt, hái lượm. Ngày nay cũng thế, việc chuyển từ lao động thủ công sang sử dụng, kiểm soát và bảo trì máy móc đã giảm thiểu rõ rệt gánh nặng thể xác, nhưng gia tăng sự căng thẳng thần kinh; cơ chế giám sát ngặt nghèo còn đáng sợ hơn cả lao động nhàm chán ở dây chuyền sản xuất. Người ta còn nói đến những nghịch lý về kinh tế có nguy cơ làm cho sự tiến bộ kỹ thuật mất dần ý nghĩa: phí tổn xã hội cho số người thiểu năng kỹ thuật có thể cao hơn lợi ích do lực lượng lao động kỹ thuật cao mang lại, vốn cũng đòi hỏi mức độ đầu tư ngày càng tốn kém để có thể sử dụng các công nghệ tiên tiến. Một sự “tăng trưởng không có việc làm” và một “xã hội hai phần ba” (hai phần ba có việc làm ổn định gánh chịu chi phí cho một phần ba thất nghiệp trường kỳ ở Tây Âu) không còn là một dự báo xa vời. Hy vọng về một xã hội “ba phần tư” hay “bốn phần năm” nhờ vào tiến trình toàn cầu hoá chưa phải là một hiện thực trong tầm tay.

Ngày nay, ở phương Tây, con người làm việc nhiều hơn so với thời trung đại và cận đại do sự bùng nổ của nhu cầu và khả năng thoả mãn nhu cầu. Ở đây, kỹ thuật cũng giữ vai trò then chốt: tiến bộ kỹ thuật, khi đi vào thị trường, tự tạo ra nhu cầu mới. Cái tốt hơn là kẻ thù của cái tốt, và, do đó, hầu như ta có một quy luật, đó là mức độ bất mãn với cái cũ, nói chung, là một hằng số bất biến!



Triết học về kỹ thuật 

Không phải chỉ ở phương Đông mới mang nặng truyền thống xem nhẹ, thậm chí ác cảm với kỹ thuật. Quan hệ giữa tư tưởng và kỹ thuật bao giờ cũng không tương xứng với tầm quan trọng tự thân của lĩnh vực này. Cội nguồn tư tưởng phương Tây, với Plato và Aristoteles, vẫn xem trọng hoạt động “chiêm nghiệm”, quan sát của tinh thần như là bộ phận “cao cấp của linh hồn” hơn là hoạt động “chân tay” thực dụng. Trong thời Trung cổ, tuy đã có những bước chuẩn bị cho sự bột phát của kỹ thuật trong thời Phục hưng, nhưng lý tưởng giáo dục vẫn xoay quanh các ngành “nghệ thuật tự do” (ngữ pháp, tu từ, biện chứng, số học, hình học, thiên văn, âm nhạc) hơn là các “kỹ năng cơ giới” (artes mechanicae). Nhưng, sau mấy thế kỷ công nghiệp hoá thành công rực rỡ, tư duy về kỹ thuật lại có một bước ngoặt từ nửa sau thế kỷ 20: kỹ thuật không phải là “hoạ”, nhưng cũng không phải hoàn toàn là “phúc”. Giống như chiến tranh quá quan trọng nên không thể khoán trắng cho các nhà quân sự, thì kỹ thuật cũng quá quan trọng để có thể yên tâm giao phó cho các nhà kỹ thuật. Từ nhận thức ấy, tiến bộ kỹ thuật phải mang tính quy phạm về đạo đức, vượt ra khỏi tính hiệu quả về công nghệ và kinh tế, hướng đến những giá trị nhân bản về chất lượng sống và những giá trị hoàn vũ về trách nhiệm bảo tồn bản thân sự sống. 

Đạo đức học về kỹ thuật, hơn bao giờ hết, chỉ có thể được xây dựng trong khuôn khổ một môn triết học về kỹ thuật thật cởi mở, đón nhận nhiều cách tiếp cận và lý giải khác nhau trước thực tại vốn rất phức tạp và đa chiều kích. 

Triết học về kỹ thuật, tất nhiên, phải bắt đầu với việc tìm hiểu các đặc điểm cơ bản của kỹ thuật hiện đại và những vấn đề nảy sinh từ đó. Nhưng trước hết, ta sẽ xét xem “kỹ thuật” (technique) và “công nghệ” (technology) quan hệ với nhau như thế nào?