Thứ Tư, 29 tháng 8, 2012

CHÂU ÂU ĐANG HY SINH THẾ HỆ TRẺ


 

Georges Steiner
Theo Télérama, ngày 12/12/2011 

 

Georges Steiner, một người có đầu óc uyên bác, đại diện cho chủ nghĩa nhân văn Âu Châu, lấy làm tiếc là văn chương, triết học và khoa học bây giờ không còn ăn nhập với nhau nữa. Ông tự vấn: làm sao hiểu được thế giới này khi văn hoá ngày càng thu hẹp lại?

Nietzsche, Héraclite và Dante là những nhân vật chính trong cuốn sách mới của ông: Thơ tư tưởng, nhưng phải chờ thêm ít thời gian nữa cuốn sách mới ra mắt độc giả. Georges Steiner tiếp đón chúng tôi trong ngôi nhà của mình tại Cambridge. Ông trò chuyện với chúng tôi một cách khôi hài, vừa ăn bánh mì vừa uống cà phê: Thời kỳ mới có Eurostar, ông bảo sẽ cho đứa bé nào thấy một con cá dưới đường hầm xuyên biển Manche một đồng siling. “Các ông bố bà mẹ hoảng cả lên!”, ông giáo sư văn học so sánh khoái chí. Sự kết hợp giữa đầu óc uyên bác và sự hài hước, trí thông minh và sự tử tế đã làm nên con người Georges Steiner.

Sinh năm 1929 tại Paris, mẹ là người Vienne, cha là người Séc. Cha ông đã tiên đoán về sự bạo tàn của Đức Quốc Xã. Georges Steiner là bậc thầy về đọc sách. Là một người biết nhiều ngoại ngữ, ông đã giải mã Homère và Cicéron ngay từ hồi còn trẻ dưới sự hướng dẫn của người cha vốn là một trí thức Do Thái đam mê âm nhạc và nghệ thuật và muốn đánh thức trong con mình thiên hướng của một pháp sư (nghĩa đen của chữ “rabbin”). Năm 1940, gia đình ông cập bến New York trên chuyến tàu cuối cùng xuất phát từ Gênes. Sau khi học ở Trường Đại học Chicago rồi Oxford, ông về Luân Đôn làm biên tập viên của báo The Economist. Ông đã vượt qua Đại Tây Dương đi phỏng vấn Oppenheimer, người phát minh ra bom nguyên tử và cũng chính là người đã kéo Georges Steiner về Viện Princeton. Đó là “bước ngoặt” cuộc đời Georges Steiner. Ông xuất bản nhiều cuốn sách nổi tiếng. Tolstoi hay Dostoievski, Ngôn ngữ và sự yên lặng là những cuốn tập hợp các bài giảng của ông. Ông cũng là người thành lập Trường Đại học Churchill tại Cambridge và trở thành nhà phê bình văn học cho New Yorker. Sau đó, ông giảng dạy tại Trường Đại học Geneve.

Sau đây là nội dung cuộc phỏng vấn nhà nhân văn chủ nghĩa vĩ đại của Châu Âu mà tư tưởng đã nổi tiếng khắp thế giới.

Châu Âu đang trải qua một cuộc khủng hoảng sâu sắc. Theo ông, lục địa già có khả năng sụp đổ hay không?

Như tình trạng hiện nay thì có khả năng thật. Nhưng người Châu Âu sẽ biết vượt qua, bằng cách này hay cách khác. Oái oăm thay, nước Đức lại có thể một lần nữa ngự trị. Lần về lịch sử mà xem. Từ tháng 8/1914 đến tháng 5/1945, từ Madrid đến Moscow từ Copenhagen đến Palermo, Châu Âu đã mất gần 80 triệu sinh mạng trong các cuộc chiến tranh, trong cảnh lưu đày, ở trại tập trung, vì đói rét hay bom đạn. Điều kỳ diệu là Châu Âu đã tồn tại. Nhưng sự hồi sinh của nó chỉ đạt được một phần thôi. Hiện nay, Châu Âu đang trải qua một cuộc khủng hoảng đầy tính bi kịch; Châu Âu đang hi sinh một thế hệ, thế hệ trẻ, một thế hệ không còn biết tin vào tương lai. Hồi tôi còn trẻ, thế hệ chúng tôi có rất nhiều hi vọng: Chủ nghĩa Cộng sản, và biết nói thế nào hơn, chủ nghĩa Phát xít cũng đem lại cho người ta một niềm hi vọng, chúng ta không nên nhầm lẫn ở chỗ này. Người Do Thái thì có chủ nghĩa Xi-on. Có nhiều lắm… Giờ đây, tất cả những thứ ấy chúng ta không còn nữa. Vậy nên, nếu lớp trẻ thời nay không còn hi vọng, cho dù chỉ là ảo vọng, thì còn lại gì? Họ không còn gì nữa. Ở Châu Âu, giấc mơ cứu thế của chủ nghĩa xã hội đã vấp phải chế độ áp bức và va phải François Holland – tôi lấy tên ông ta như một biểu tượng chứ không chỉ trích con người ông ta. Chủ nghĩa phát xít đã sụp đổ trong ghê rợn. Nhà nước Istrael cần phải tồn tại nhưng chủ nghĩa quốc gia của nhà nước này đã trở thành một bi kịch, trái với tinh thần của người Do Thái, vốn mang tính quốc tế rất cao. Tôi muốn trở thành một người nay đây mai đó, lúc thế này, lúc thế kia. Tôi sống theo châm ngôn của Baal Shem Tov, một pháp sư vĩ đại thế kỷ 18: “Chân lí luôn sống lưu vong.”

Toàn cầu hoá có tạo điều kiện thuận lợi cho sự lang thang này hay không?

Chưa bao giờ Châu Âu lại khép kín về mặt địa lý như thế. Trước đây, khi ra khỏi nước Anh, người ta có thể đi Úc, đi Ấn Độ, đi Canada; giờ đây không còn giấy phép lao động nữa. Cả hành tinh như đóng cửa. Hằng đêm, hàng trăm người từ Maghreb cố vượt sang Châu Âu. Hành tinh đang vận động, nhưng vận động đi đâu? Số phận hiện nay của người nhập cư thật khủng khiếp. Tôi đã được mời đọc một bài diễn văn dài trước chính phủ Đức và tôi đã kết thúc bài diễn văn như sau: “Thưa quý ông quý bà, các vì sao bây giờ tất cả đã thành màu vàng.”

Dù gì đi nữa, ông vẫn thấy mình là người Châu Âu?

Châu Âu là nơi của sự tàn sát, của những điều khó hiểu, nhưng đó cũng là châu lục có nhiều nền văn hoá mà tôi yêu thích. Tôi mang nợ Châu Âu rất nhiều, và tôi muốn ở nơi mà người thân của tôi đã khuất bóng. Tôi muốn ở gần Soah, ở nơi mà tôi có thể nói đến bốn thứ tiếng. Đó là nơi mà tôi có thể nghỉ ngơi thoải mái, nơi tôi có nhiều niềm vui và hạnh phúc. Sau khi học tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Đức là những ngôn ngữ tôi đã lĩnh hội hồi còn nhỏ, tôi đã học tiếng Ý. Mẹ tôi bắt đầu câu chuyện bằng một câu ở ngôn ngữ này nhưng lại kết thúc bằng một câu ở thứ tiếng khác mà không hay biết. Tôi không có tiếng mẹ đẻ, nhưng trái với định kiến, hiện tượng này giờ khá phổ biến. Ở Thụy Điển, người ta nói tiếng Phần Lan và tiếng Thụy Điển. Ở Malaysia, người ta nói ba thứ tiếng. Khái niệm tiếng mẹ đẻ là một khái niệm mang tính quốc gia chủ nghĩa và có vẻ lãng mạn. Khả năng đa ngữ đã cho phép tôi giảng dạy và viết cuốn Hậu Babel: thi pháp về nói và dịch thuật và nhờ vậy mà ở đâu tôi cũng thấy như đang ở nhà mình. Mỗi ngôn ngữ là cánh cửa mở ra thế giới. Một sự bắt rễ sâu sắc, kiểu Barrès. Cây có rễ, còn tôi có chân, đó là một sự tiến bộ vượt bậc, tin tôi đi!

Trong Thơ tư tưởng, cuốn sách mới ra của ông, ông có nhắc lại là Sartre đã từng muốn vừa được như Stendhal vừa được như Spinoza. Văn phong có dẫn dắt người ta đến tư duy hay không?

Có chứ, mọi triết lý đều là một hành vi ngôn ngữ. Nhịp điệu, ngôn từ, cú pháp, tất cả những gì đưa chúng ta đến với thi ca, chúng ta đều tìm thấy trong văn bản triết học, cho dù văn bản này có trừu tượng đến mấy. “Mọi tư duy bắt đầu từ một bài thơ”, Alain viết về Valéry như thế. Các nhà tư tưởng lớn thường là những nhà văn cao siêu, như Nietzsche hay Kierkegaard. Bergson, một trong những bậc thầy tiếng Pháp đã nhận giải Nobel văn chương. Platon xứng đáng được so sánh với Shakespeare về việc sáng tạo các nhân vật, các vở kịch sử thi. Nhưng quan hệ giữa tư duy và việc viết văn cũng có thể mang tính xung đột. Một số triết gia muốn viết thật dở, muốn bóp nghẹt con người nhà văn trong mình, như Hegel, vua của phản-phong cách. Truyền thống kép về thiên tài trữ tình ở Platon và về giáo dục học hà khắc, về hệ thống ở Aristote vẫn còn đó ngay từ đầu.

Văn chương và triết học ngày nay có còn ăn ý với nhau không?

Cả hai thứ dường như đang lâm nguy, theo tôi là như vậy. Văn chương đã chọn địa hạt của những quan hệ cá nhân tiểu tiết. Nó không còn biết đề cập các chủ đề lớn về siêu hình học. Chúng ta không còn Balzac, không còn Zola. Không có lĩnh vực nào thoát khỏi trang giấy của các thiên tài chuyên viết về tấn trò đời này. Proust cũng đã sáng tạo nên một thế giới vô tận, và tác phẩm Ulysse của Joyce vẫn còn gần với Homère… Joyce là bản lề giữa hai thế giới lớn, thế giới cổ điển và thế giới của sự hỗn mang. Trước đây, triết học cũng có thể tự cho mình mang tính toàn cầu. Cả thế giới đều giang tay đón nhận tư tưởng của Spinoza. Ngày nay, thế giới phần đa đã khép kín với chúng ta. Thế giới đang thu hẹp lại. Khoa học đã trở nên khó tiếp cận. Mấy ai mà hiểu được những cuộc phiêu lưu mới đây của di truyền học, của vật lý thiên văn, của sinh học? Ai có thể cắt nghĩa những vấn đề này cho những người ngoại đạo? Các lĩnh vực tri thức không còn liên thông với nhau nữa; các nhà văn và các nhà triết học giờ đây bất lực trong việc cho chúng ta hiểu thế nào là khoa học. Cho dù thế, khoa học vẫn tỏa sáng nhờ vào thế giới tưởng tượng của nó. Làm sao có thể nói về ý thức của con người mà lại gạt sang một bên tất cả những gì táo bạo nhất, giàu sức tưởng tượng nhất? Tôi lo lắng khi biết được nghĩa của khái niệm “có học” hiện nay – “to be literate”, khái niệm này trong tiếng Anh còn mạnh hơn. Con người ta có thực sự “có học” không khi mà một phương trình phi tuyến cũng không hiểu? Văn hóa đang có nguy cơ trở thành thứ văn hóa tỉnh lẻ. Chắc là chúng ta sẽ phải suy nghĩ lại quan niệm của chúng ta về văn hóa. Tôi muốn kể cho chị nghe một câu chuyện, câu chuyện đã khiến tôi vô cùng xúc động: một hôm, tôi ăn tối cùng với một đồng nghiệp tại Cambridge, một người đã đoạt giải Nobel, một người rất lịch thiệp. Ông ta nhờ tôi giải thích một văn bản của Lacan mà ông ta không hiểu gì hết. Sự khiêm tốn của một nhà khoa học lớn trong sự đối sánh với sự kiêu căng, ngạo mạn của những bậc thầy bóng tối hay tranh cãi viển vông…

Ông ủng hộ văn hóa truyền thống của người quân tử và đồng thời nhấn mạnh đến sự mềm yếu của típ người này. Tại sao vậy?

Bởi vì nền văn hóa lớn đã suy vong trước bạo tàn. Chúng ta đừng bao giờ quên là hai cuộc chiến tranh thế giới là những cuộc nội chiến Châu Âu. Nước Đức, đất nước của Hegel, Fichte và Schelling, khuôn mẫu của tư duy triết học đã trải qua sự bạo tàn tồi tệ nhất. Nhân văn học đã không thể che chở cho chúng ta; trái lại, lĩnh vực này đồng lõa với sự bất nhân. Buchenwald chỉ cách Weimar vài cây số. Làm sao một số người lại có thể tối ở nhà chơi các bản nhạc của Bach và Schubert còn sáng ra thì đi tra tấn trong các trại tập trung?

Như vậy thì văn hóa để làm gì, nếu như nó không khiến cho chúng ta nhân văn hơn?

Văn hóa làm cho cuộc sống có thể chịu đựng được. Làm người trần thế nào có vui vẻ gì? Tất cả chúng ta đều phải đối mặt với bệnh ung thư, với stress, với sợ hãi; ngày nào cũng đối diện với cảnh tang tóc, và không gì đáng sợ hơn. Tôi thổ lộ với chị một điều có vẻ rất trẻ con: tôi và vợ tôi vừa mất một con chó mà chúng tôi đặt tên là Ben. Đó là một điều kinh khủng đối với chúng tôi, bởi con vật này đã trở thành trung tâm cuộc sống gia đình tôi – và thậm chí trên cả trang bìa tạp chí Cahier de l’Herne, số dành cho tôi.

Tôi không thể sống qua một ngày mà không có âm nhạc, sắc đẹp, thi ca. Đó sự an tâm của tôi, sự sống còn của tôi. Việc đồng hành với các bậc cao minh mang lại cho tôi cảm giác hãnh diện và biết ơn vô cùng. Tôi muốn cảm ơn họ. Bằng cách thuộc lòng họ. Không ai có thể lấy mất những gì chúng ta học thuộc lòng. Kiểm duyệt không, cảnh sát chính trị không, thứ nghệ thuật vô vị, bất nhã cũng không. Học thuộc lòng là cách đi vào chính tác phẩm: “Ngươi sẽ sống trong ta, ta sẽ sống cùng ngươi.” Các văn bản song hành cùng chúng ta; bộ hành cùng với một bài thơ của Baudelaire là đi cùng một người thanh nhã.

Theo ông, các công nghệ mới đang đe dọa “sự yên lặng” và “thế giới riêng tư” cần thiết cho sự gặp gỡ các tác phẩm lớn…

Đúng thế, sự yên tĩnh gắn bó hữu cơ với ngôn ngữ. Chị và tôi, chúng ta đang ngồi đây, trong một ngôi nhà có vườn bao quanh, nơi mà ngoài cuộc trò chuyện ra không còn âm thanh nào khác. Ở đây tôi có thể làm việc, tôi có thể mơ mộng và lao động trí óc. Sự im lặng đã trở thành một điều xa xỉ lớn lao. Người ta sống trong ồn ào. Ở thành phố không còn khái niệm về đêm nữa. Lớp trẻ sợ sự yên tĩnh. Làm sao mà đọc nghiêm túc những cuốn sách khó trong sự ồn ào? Vừa đọc trang sách của Platon vừa nghe nhạc qua máy Walkman ư? Tôi rất sợ điều này. Công nghệ mới làm thay đổi cả cuộc đối thoại với sách. Nó rút gọn, đơn giản hóa, kết nối. Đầu óc con người giờ đã “cáp hóa”. Ngày nay người ta không còn đọc sách như xưa nữa. Hiện tượng Harry Potter xuất hiện như một ngoại lệ. Trẻ em khắp nơi trên thế giới, trẻ em người ét-ki-mô, người da đen Nam Phi, tất cả đọc đi đọc lại thiên truyện đặc trưng Anh quốc này, một thiên truyện được viết bằng một ngôn ngữ phong phú và cú pháp tinh tế. Thật tuyệt. Sách là một người bảo vệ đời sống riêng tư. Tiếng Pháp không có từ để dịch chữ “privacy”. Chữ “Intimité” dịch từ này rất tồi. Nước Anh vẫn còn là một đất nước của “privacy”. Điều này có thể có những khía cạnh phi lý: người ta có thể láng giềng với nhau trong năm mươi năm trời mà không trao đổi với nhau lời nào. Sự tôn thờ “Private life” (đời sống riêng tư) có một giá trị chính trị rất lớn: đó là khả năng chống chọi.

Ông vừa nhắc đến Harry Potter. Trong cuốn Thơ tư tưởng, ông mạnh dạn rút ngắn khoảng cách giữa phép biện chứng của Hegel, sự phủ định cái phủ định, và cái “không gì không gì hết” của Edith Piaf. Tại sao văn hóa quần chúng đã không khiến cho ông quan tâm hơn?

Tôi đã lỡ vận. Nhất là với điện ảnh. Nếu tôi có thể sống lại từ đầu, tôi sẽ tìm hiểu tại sao, trong số những sức mạnh sáng tạo cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, phim ảnh có thể độc chiếm vị trí đầu tiên. Ngày nay, nếu Shakespeare sống lại hẳn ông sẽ viết kịch bản điện ảnh. Tôi đã nhầm, bởi tôi từng là một đứa trẻ thấm nhuần ngôn ngữ Hy La và cha tôi là một người cực kỳ thủ cựu theo kiểu truyền thống. Người ta không thể sống cập nhật với tất cả. Với âm nhạc thì có thể: tôi nghe các nhà soạn nhạc thế hệ sau Boulez và tôi rất say mê. Với nghệ thuật khái niệm thì không, tôi không tài nào mà theo kịp: tôi đi Beaubourg, người ta cho tôi xem một chồng gạch và bảo đó là một tác phẩm lớn, tôi không biết nói gì; trong khi mà tôi hiểu Bacon là người có trích dẫn Velázquez, Greco và Goya. Tốt hơn là thành thực với những sai lầm của chính mình hơn là tìm cách đi lòe bịp mọi người.

Ông không tự cho mình là một nghệ sĩ sáng tạo ư?

Không, không nên lẫn lộn các chức năng. Ngay cả nhà phê bình và nhà bình luận, nhà chú giải có năng lực nhất cũng cách xa nhà sáng tạo hàng năm ánh sáng. Pouchkine từng nói: “Cảm ơn dịch giả, cảm ơn nhà xuất bản, cảm ơn nhà phê bình, các bạn là những người mang thư của tôi và tôi là người viết ra những lá thư đó.” Tôi cũng thế, tôi mang thư từ bên mình. Đó là một đặc quyền, nhưng đặc quyền này chẳng liên quan gì đến điều kỳ diệu mà một câu thơ mang lại, một câu thơ ngàn năm hát mãi. Chúng ta không hiểu cội nguồn sâu kín của hoạt động sáng tạo. Chẳng hạn, cách đây nhiều năm, chúng tôi ở Berne… Bọn trẻ đi pích ních cùng cô giáo và cô giáo đưa chúng đến trước một cái cầu cạn. Chúng bắt tay vào vẽ. Cô giáo nhìn qua vai một cậu bé và thấy cậu ta vẽ ủng cho chân cầu! Từ hôm đó, tất cả các cầu cạn đều biết đi. Đứa bé đó tên là Paul Lee. Sáng tạo làm thay đổi mọi thứ trước mắt, chỉ cần một vài đường nét thôi cũng đủ cho người nghệ sĩ cho chúng ta thấy những gì đã tồn tại. Bí ẩn nào thúc đẩy sự sáng tạo? Tôi đã viết Văn phạm sáng tạo để hiểu điều đó. Đến cuối đời rồi mà tôi vẫn chưa hiểu nổi.

Hiểu, phải chăng là thiếu nghệ thuật?

Theo một nghĩa nào đó, tuy không hiểu nhưng tôi vẫn hài lòng. Chị hãy mường tượng một thế giới trong đó hóa học thần kinh sẽ giải thích cho chúng ta về Mozart… Điều này có thể quan niệm được và làm tôi sợ. Máy móc đã tương tác với bộ não: máy vi tính và con người làm việc cùng nhau. Vả lại, có thể một ngày nào đó, các sử gia sẽ nhận ra rằng sự kiện lớn nhất của thế kỷ 20 không phải là chiến tranh, cũng không phải là khủng hoảng tài chính mà là buổi tối mà đại kiện tướng cờ vua Kasparov đã thua một hộp kim loại nhỏ bé. Và ghi lại: “Máy móc không tính toán, mà tư duy.” Khi thấy điều đó, tôi đã hỏi ý kiến các đồng nghiệp giảng dạy tại Cambridge vốn là vua của khoa học. Họ bảo tôi rằng họ không biết tư duy có đúng không phải là tính toán hay không. Đó là một câu trả lời kinh hãi! Một ngày nào, cái hộp nhỏ đó có sáng tác âm nhạc không nhỉ?

Nguyễn Duy Bình dịch

 

Thứ Ba, 28 tháng 8, 2012

PHẢI CHĂNG CHÚNG TA ĐANG NGÀY CÀNG THIẾU VĂN HÓA?


 

Erwan Desplanques
NGUYỄN DUY BÌNH dịch
 
(VHNA): Thời gian qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng nước ta đã dấy lên những cuộc tranh luận về sự xuống cấp văn hóa, thể hiện rõ nhất ở sự thụt lùi của văn hóa đọc, sự sa sút của các môn khoa học xã hội và nhân văn, trình độ tiếng Việt nghèo nàn của giới trẻ… Nhưng Việt Nam có phải là một ngoại lệ? Để bạn đọc có cái nhìn đối sánh, Tạp chí Văn hóa Nghệ An xin giới thiệu bài viết sau đây của Erwan Desplanques về các cách nhìn nhận khác nhau về trình độ văn hóa của người Pháp hiện nay.
Trình độ văn hóa của người Pháp không được xuất sắc cho lắm. Sự ám ảnh tinh hoa chủ nghĩa này của người Pháp phải chăng đã trở nên lỗi thời? Hay là đầu óc của chúng ta dù ít kiến thức hơn, nhưng tư duy tốt hơn?
Mười bảy tuổi mà không biết Rimbaud là ai. Có lẽ trong chúng ta, số người có văn hóa như lá mùa thu, như xương rồng trên vỏ băng địa cực. Một cái đầu trống rỗng. Đó là điều mà mới đây Trường Khoa học chính trị đã cho chúng ta biết để biện minh cho việc bỏ môn thi luận về văn hóa tổng quát ở kỳ thi đại học. Tháng giêng năm 2012, trường đại học danh tiếng của Paris đã đóng gói môn thi này - “Ai có thể tự cho mình là có văn hóa tổng quát ở tuổi 17?”, Richard Descoings, nguyên hiệu trưởng trường đặt vấn đề - ông cho rằng môn thi đó không hữu ích (với những bài văn quá yếu) và mang tính phân biệt (đối với các em học sinh cấp 3 khó khăn về mặt xã hội).
Kết quả của quyết định phí phạm này: trên báo chí, rất nhiều diễn đàn đồng loạt tỏ ý phẫn nộ, như thể người ta vừa đặt lại vấn đề về sự tồn tại của Descartes hay Aristote. Một sự lựa chọn “chết người” theo Régis Debray, Philippe Sollers hay Erik Orsenna. Dấu hiệu của “tình trạng xuống cấp của văn hóa hiện nay, đáng quan ngại hơn cả việc đánh mất bộ tam A(1)” (Ivan Rioufol, Le Figaro). Bằng chứng cho thấy các trí thức tinh hoa của chúng ta ít nhất cũng đã giữ được tinh thần bi kịch!
Đằng sau cuộc tranh luận xung quanh Trường Khoa học chính trị là sự lo âu đặc trưng Pháp về sự xuống cấp của văn hóa. Sự sợ hãi về sự chai lì của bộ não càng trở nên sâu sắc hơn trong bối cảnh Pháp (Quận chúa Clèves bị cựu nguyên thủ quốc gia chê bai, môn lịch sử-địa lý trở thành môn chọn ở kỳ thi tốt nghiệp tú tài ban khoa học, các khoa văn vắng bóng người học, v.v…). Thế hệ trẻ dường như không biết các tác phẩm cổ điển và hớn hở song hành cùng sự thiếu hiểu biết của mình mà không cảm thấy có “nhu cầu đọc Balzac để học cách sống” (Pierre Nora).
Đâu đâu người ta cũng than vãn: giáo viên thì phàn nàn về sự xuống cấp văn hoá tràn lan, còn các chủ doanh nghiệp Pháp thì nhận thấy trình độ văn hóa của các nhân viên trẻ mới được tuyển dụng càng ngày càng thấp (Theo điều tra của Les Echos - Viện doanh nghiệp, năm 2006). Thậm chí hội đồng tuyển sinh trường ENA (Trường Hành chính quốc gia) cũng ghi nhận “trình độ kiến thức thấp kém” của các thí sinh trong bản báo cáo mới nhất (2010). Vậy là, nền tảng của cả dân tộc đang bị đe dọa (như thế để nói rằng ngày tận thế không còn xa nữa).
Chắc hẳn sẽ khủng khiếp hơn nữa nếu những lo lắng này được xác minh bằng một nghiên cứu khoa học. Song, không có gì cho phép xác định được những lo ngại đó: đã từ lâu, trình độ văn hóa tổng quát của người dân là một “điểm mù” theo nhà nghiên cứu khoa học thông tin Bertrand Labasse (Trường Đại học Ottawa). Nói chung, chúng ta không hề biết là người dân biết hay không biết điều gì. Theo điều tra của Ủy ban châu Âu, một phần tư người Pháp còn tin là mặt trời xoay quanh trái đất. Những cuộc thăm dò khác chỉ ra rằng chỉ có 36% người Pháp biết tên Chủ tịch Quốc hội và chưa đến 16% có thể kể tên một nhà văn lớn người Ý. Những kết quả này nói lên điều gì? Gần như không gì cả.
Ngay bản thân khái niệm văn hóa tổng quát là một “cụm từ bất ổn và hoang tưởng”, cũng theo Bertrand Labasse. Trong giáo dục, “đó không phải là một chuyên ngành, đó chỉ là một từ vạn năng để chỉ những môn thi khác nhau”, Eric Cobast, một giáo sư dạy lớp dự bị đại học nhận xét: Ở Trường Khoa học chính trị người ta gọi đó là triết học light(2); trong các trường khác (thương mại, y khoa, báo chí, v.v...) thì đó là sự pha trộn của lịch sử, thời sự và suy nghĩ cá nhân.
Rộng hơn, người ta thường nói là văn hoá tổng quát không được định nghĩa, nếu không phải một cách tiêu cực, như là “những gì còn lại sau khi đã quên hết” (Theo câu nói nổi tiếng của Edouard Herriot). Một số ngày tháng quan trọng hay những câu trích dẫn nổi tiếng. Thêm vào đó là một ít véc ni đánh bóng rẻ tiền nữa (xem hàng loạt cuốn sách về chủ đề này thì biết: từ cuốn Văn hóa tổng quát cho những người mù tịt, đã bán được 450 000 bản, đến Văn hoá tổng quát trong vòng 8 ngày, xuất bản năm ngoái ở NXB Ellipses!)
Chưa hẳn đã đúng hoàn toàn: những kiến thức được xem là cơ bản để trau dồi vốn văn hoá của mình không phải được chọn lựa một cách tình cờ - học bách khoa toàn thư cũng vô ích thôi. Những kiến thức đó luôn tương ứng với một “khối kiến thức hợp lệ” và đáp ứng “chuẩn mực xã hội”, Bertrand Labasse nhấn mạnh. “Cách đây vài thập kỷ chẳng hạn, ai mà không biết các tỉnh trong nước thì có nguy cơ bị xem là một kẻ dốt nát, nhưng giờ người ta khoan dung hơn nếu ai đó nhầm lẫn địa điểm của Bar-le-Duc hay La Roche-sur-Yon.” Kiến thức tối thiểu mà xã hội thượng lưu đòi hỏi thay đổi theo thời gian. Hay theo vùng miền. Với một nền tảng luôn luôn thiêng liêng ở xứ sở của Montaigne: cổ văn (văn chương, lịch sử, triết học).
Ở Pháp, cổ văn luôn được xem là cốt lõi, cốt tủy của nền giáo dục. Cho đến cuối thế kỷ 19, học sinh dành ba phần tư thời lượng để học các môn đó. Họ phải tiếp cận các tác giả lớn, thử sức với những kiệt tác trong quá khứ để rèn luyện tư duy và trau dồi tâm hồn. Kỳ thi thạc sĩ (agrégation) đầu tiên (năm 1766) thi về văn phạm và văn chương.”, Claude Lelièvre, nhà nghiên cứu lịch sử giáo dục Trường Đại học Paris-Descartes giải thích. Đó là sự kế thừa nghệ thuật hùng biện của người Hy Lạp. Và phát triển hơn với các thầy tu dòng Tên (các nhà truyền giáo đã rất ấn tượng với các vị quan Trung Hoa, có khả năng leo lên bậc thang quyền lực nhờ vào kiến thức sách vở).
Các chuyên gia giáo dục công nhận rằng đó là một quan niệm về tri thức vừa thanh cao vừa võ đoán. Thậm chí hẹp hòi. Nền văn hóa cổ điển đó đâu có làm cho trí tuệ thăng hoa - và đâu được xã hội trọng vọng - nền văn hóa đó bỏ quên một phần lớn các kiến thức cập nhật. “Ngày nay, trình độ về hóa học và sinh học của người dân cao hơn cách đây một trăm năm nhưng chẳng ai để tâm đến điều đó”, Claude Lelièvre nhận xét. Trong vòng một trăm năm, phạm vi tri thức đã bùng nổ (khám phá khoa học, sự ra đời của xã hội học, nhân học và điện ảnh…). Chúng ta giải quyết những lĩnh vực rộng lớn hơn gấp 10 lần. “Nếu chúng ta quan tâm đến tổng thể kiến thức của từng người thì có thể nói chưa bao giờ chúng ta thông thái đến thế”, Bertrand Labasse đánh giá. Hơn nữa, thời nay có nhiều người được đến trường hơn. Và nếu có thể từng cá nhân chúng ta ít chữ nghĩa hơn “con người quân tử” (honnête homme) thế kỷ 17 nhưng tập thể chúng ta có kiến thức văn hóa lớn hơn nhiều so với nước Pháp thời đó.
“Về đại cục, người dân được giáo dục chu đáo hơn, khác với các trí thức tiêu biểu của chúng ta, một phụ trách công vụ tại Bộ Văn hóa phát biểu. Cách đây 50 năm, một ông chủ ngân hàng phải có vốn văn hóa cổ điển. Thời đó đã xa rồi: số cán bộ cao cấp đọc hơn 20 cuốn sách mỗi năm ít hơn hai lần so với cách đây 30 năm. Ngày nay, cán bộ quản lý không nói chuyện với nhau về giải Goncourt mới nhất nữa mà trao đổi cho nhau những địa chỉ khách sạn năm sao ở quần đảo Maldives.
Trong khi đó, những người dân còn lại phát triển khả năng tri nhận của mình (ba năm chúng ta lại đạt thêm ba điểm trắc nghiệm tâm lý - kỹ thuật, kiểu IQ). Như vậy, hẳn chúng ta thông minh hơn, với một phạm vi văn hóa rộng mở. Thêm vào đó, kiến thức được phổ biến không những ở trường học mà còn ở ngoài trường học. Qua bạn bè, qua các phương tiện thông tin đại chúng. Và dĩ nhiên là qua Internet.
Michel Serres vừa viết một tiểu luận ngắn, cô đọng và dễ hiểu về vấn đề này. Trong tiểu luận có tên Petite Poucette (Ngón tay cái tí hon) đó, Serres cảm thấy rất ấn tượng trước việc lớp trẻ bây giờ sử dụng ngón tay cái khéo léo đến mức nào với máy điện thoại di động. Ông so sánh thời nay với thời kỳ Phục Hưng. Với một sự đảo lộn tri thức cơ bản. “Kỷ nguyên tri thức đã đến hồi kết”, viện sĩ này khẳng định. Không cần phải nhồi nhét kiến thức bởi kiến thức sẵn có ở mọi lúc, mọi nơi, chỉ cần một cú nhấp chuột. Có lẽ chỉ cần biết “tương đối” thôi. Không nhất thiết phải nhớ tên các thi sĩ Tao đàn (Pléiade(3)) hay học vội học vàng những ngày tháng quan trọng của Cộng hòa thứ 4, máy vi tính lo hết cho chúng ta. Theo Michel Serres, Internet bớt gánh nặng cho trí nhớ của chúng ta và làm cho bộ não của chúng ta có khả năng “nhạy bén, sáng tạo và hoạt” hơn.
Giờ chúng ta không thể đánh giá một học sinh về khả năng tích lũy kiến thức nữa, nhà kinh tế học Dominique Meurs, cộng tác viên nghiên cứu tại Viện nghiên cứu dân số quốc gia, nói thêm. Ngày nay, có học thức là biết chuyển từ bộ ghi nhớ này sang bộ ghi nhớ khác, từ một tác phẩm triết học đến phim truyền hình nhiều tập, có khả năng giải mã nhiều mật mã, đánh giá đúng giá trị của thông tin và có khả năng kết nối thông tin đó với các thông tin khác.” Những cái đầu ít kiến thức hơn, nhưng tư duy tốt hơn. Giáo viên phải thích ứng điều đó. Bằng cách chú trọng năng lực hơn là sự chuyển tải tri thức - mà năng lực cao nhất là năng lực “học cách học” (biết tự định hướng trong tri thức, đào bới trong đó những gì đang tìm kiếm).
Sự lạc quan sư phạm này tất yếu khiến nhiều người sẽ mỉa mai cay độc. “Ta thấy là Michel Serres không lên lớp giảng dạy, một cô giáo thuộc nhóm Cứu lấy văn chương nói. Những gì tìm thấy trên internet không phải là tri thức mà chỉ là thông tin. Nếu không có kiến thức cơ bản, học sinh sẽ như nhau cả thôi: họ chỉ cần gặp một lỗi in trên Wikipédia để xếp ngay Napoléon sau Thế chiến thứ nhất.” “Chỉ có học sinh giỏi mới biết sử dụng internet, Agnès Joste, giáo viên dạy tiếng Latinh - Hy Lạp ở Trường cấp 3 Claude-Monet (Le Havre) khẳng định. Những học sinh khác thì bị chìm nghỉm trong biển cả thông tin, không tài nào mà chọn lọc được. Sự bất lực này làm họ thất vọng. Không có tri thức thì không có kỹ năng. Chính trí nhớ làm nên chất lượng của việc đánh giá.
Song song với điều đó, giáo viên lo lắng về trình độ chính tả kém cỏi của học sinh. Một sự xuống cấp diễn ra từ những năm 1950 (năm 2005, trình độ viết chính tả của học sinh lớp 7 tương ứng với trình độ của các em học lớp 5 năm 1987. Nếu như phạm vi kiến thức đã được mở rộng rất nhiều thì khả năng diễn đạt viết đã giảm sút đáng kể. Vấn đề hiểu biết từ vựng, những bài văn thiếu mạch lạc. Làm sao có thể lĩnh hội văn hóa và kiến tạo tư duy khi không làm chủ được ngôn ngữ một cách cơ bản?
Giờ đây, nhiều giáo viên đã lên tiếng đấu tranh để tái phát huy những bộ môn như từ nguyên học, văn phạm, lịch sử. Để rèn luyện tư duy hơn là để bảo vệ thánh địa của riêng mình. Được xuất bản vào tháng 4 năm 2012, cuốn sách viết chung: Không tiếng La tinh (NXB. Nghìn lẻ một đêm) làm sống dậy ngôn ngữ của Cicéron(4) trước một “nền văn hóa lạnh lùng, đầy ám ảnh kỹ thuật.” Suy cho cùng, người ta lên án quan điểm “vị lợi chủ nghĩa” của trường học.”Người ta không yêu cầu chúng tôi rèn luyện đầu óc phê phán cho học sinh mà bảo đảm cho học sinh khả năng kiếm được việc làm là được”, Agnès Joste kết luận. Bằng cách dạy kỹ năng làm việc theo nhóm, dạy tin học, tiếng Anh thương mại. Sự việc diễn ra ở Trường Khoa học chính trị chỉ là một giọt độc làm tràn li. Như thể động tác thăng bằng của con lắc đã quá lạc nhịp. Từ việc thống trị của cổ học đến việc nó dần biến khỏi phạm vi tri thức. Nguy cơ ư? Đào tạo những kỹ thuật viên lành nghề nhưng không có cái nhìn tổng thể cũng không có trí nhớ. Nói tóm lại, đó là khoa học không có ý thức… Thể nào chúng ta cũng trở về với cái cổ điển mà thôi.
Nguồn: Télérama số 3255
----------------------
(1) AAA, mức cao nhất trong xếp hạng tín dụng. Tất cả các chú thích đều của người dịch.
(2) “Philosophie light” có thể được hiểu là triết học cho sẵn, thứ triết học không cần động não cũng hiểu.
(3) Nhóm 7 bảy nhà thơ Pháp thời phục hưng trong đó có Pierre de Ronsard và Joachim Du Bellay là những nhà thơ rất nổi tiếng ở Pháp.
(4) Cicéron là một nhà hùng biện lỗi lạc người La Mã, một tác giả viết bằng tiếng La tinh sinh năm 106 trước Công nguyên.

Thứ Hai, 27 tháng 8, 2012

TRẢI NGHIỆM ĐÚNG CÁCH


 

 CẨM HÀ

TTCT - Khi biết tôi cho con tham gia chương trình Học kỳ quân đội, nhiều người quen ủng hộ nhưng cũng nhiều người nói rằng không bao giờ nỡ quăng con mình vào môi trường kham khổ như vậy.
Đúng là sau một tuần dầm mưa dãi nắng, ăn cơm bộ đội, mất ngủ vì nóng, con tôi sút mấy ký, mặt xanh xao, người đầy nốt muỗi đốt... Nhưng tôi vẫn mừng vì cháu đã có thêm một trải nghiệm mới mẻ. 
Bước đường thành công của mỗi người phần lớn gắn với hành trình trải nghiệm vì hầu như ai cũng công nhận những kiến thức học ở trường chỉ là nền tảng. Nhưng đi nhiều và tiếp xúc nhiều tôi mới phát hiện cách thức trải nghiệm cuộc sống của thanh niên ta và Tây (những người mà tôi biết) có nhiều điểm khác nhau.

Đi chưa hẳn là trải nghiệm
Phong trào đi du học, đi du lịch, đi “phượt” trong nước, nước ngoài giờ không còn xa lạ với giới trẻ Việt Nam. Nhưng tôi đồ rằng nó chưa chắc tỉ lệ thuận với việc mở rộng nhân sinh quan, thế giới quan của lớp trẻ. Rất nhiều sinh viên Việt Nam đi du học ở nơi cách Việt Nam mười mấy ngàn cây số nhưng chỉ kiên quyết ăn mỗi cơm hoặc mì ăn liền vì “không thể chịu nổi thức ăn của chúng nó”. Họ từ chối các cơ hội giao lưu, đi bảo tàng, đi nhà hát, đi công viên nướng BBQ với bạn cùng lớp, tự thỏa mãn với việc đóng cửa phòng suốt ngày nghe đĩa của Mỹ Tâm, Đàm Vĩnh Hưng và chat chit với các bạn ở quê nhà.
Thế là sau một hai năm hoặc thậm chí nhiều năm du học, họ không có thêm nổi một người bạn nào, một mối quan hệ xã hội nào ở nước sở tại, không biết thêm chút nào về văn hóa, bản sắc địa phương. Họ có đủ lý do để biện minh cho việc mù mờ văn hóa xứ người dù Tây du, Đông du đủ cả. Nào là bận học, nào là người nước ngoài lạnh lùng, khó gần. Và họ luôn tự hào một cách rất AQ rằng “dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. Để tới khi phải hoặc được làm việc trong môi trường đa quốc tịch, đa quốc gia, nhiều người đã ngã ngửa vì những cú sốc văn hóa...
Đơn giản bởi các bạn chưa được trang bị những kỹ năng giao tiếp đa văn hóa (intercultural communication), mà đáng lẽ các bạn đã có cơ hội đúc kết nếu biết dấn thân và quăng mình vào cuộc sống phong phú nơi xứ người lúc còn đi học.
Nghĩ cho kỹ, điều này có nhiều phần trách nhiệm của các bậc cha mẹ. Trong khi giới trẻ quốc tế luôn được cha mẹ khuyến khích trải nghiệm càng nhiều càng tốt, tự lập càng nhiều càng tốt, tham gia hoạt động cộng đồng, câu lạc bộ càng nhiều càng tốt thì các bậc cha mẹ Việt Nam chỉ cảm thấy yên tâm khi con học điểm cao, đỗ đạt, có vị trí trong xã hội.
Một vị cựu đại sứ Anh ở Việt Nam khi hết nhiệm kỳ đã rất ủng hộ quyết định của cậu con trai vào ở ký túc xá một trường đại học tại Hà Nội để học thêm tiếng Việt. Liệu có nhiều bậc phụ huynh Việt sẵn sàng nâng đỡ những ước mơ của con mình như vậy hay không hay luôn cật lực chạy đôn chạy đáo xin việc cho con khi con vừa tốt nghiệp? Và có nhiều bạn trẻ sẵn sàng từ chối những cơ hội tốt đẹp do người khác sắp đặt để thưởng thức cuộc sống theo cách riêng của mình?
Khi khoe lý lịch xin việc, các bạn trẻ Việt Nam phần nhiều chưa chú trọng đề cao những hoạt động từ thiện, xã hội mà mình đã tham gia, trong khi những “gap years” (thời gian tạm nghỉ học/nghỉ làm để đi đây đi đó, làm các việc ngoài chuyên môn của mình) lại được coi là niềm tự hào của các bạn trẻ quốc tế.

Từ trải nghiệm tới trân trọng sự khác biệt
Tôi vẫn nhớ lời nói nhẹ nhàng của một thầy giáo đáng kính (rất quen thuộc với các nhà báo Việt Nam theo học báo chí ở Đức) khi tôi phàn nàn cách phát âm của các bạn học châu Phi quá khó nghe. Thầy bảo: “Người châu Á cũng có cách phát âm riêng mà”. Thầy vốn dễ mến, rất quý học sinh nên tôi chắc thầy phải thấy tôi “chướng” lắm mới nhắc nhở nhẹ tôi như vậy. Đó là một trong những bài học đầu tiên của tôi về việc tôn trọng sự khác biệt khi đi ra với thế giới.
Tôi nhớ những cái bếp ăn tập thể dành cho sinh viên đủ mọi quốc tịch lúc nào cũng đông đúc mà tôi từng trải qua. Trong khi không ai tỏ vẻ đặc biệt khó chịu với mùi nước mắm từ hộp cơm của các sinh viên Việt thì hộp cơm đầy màu sắc cùng mùi đặc trưng của các bạn Ấn Độ, châu Phi thường bị một số sinh viên Việt chỉ trỏ bình phẩm, nhăn mặt. Cô bạn cùng phòng còn xanh mắt khi tôi nếm thử thức ăn của mọi người và khen ngon. Tôi biết nhiều sinh viên Việt Nam hãnh diện vì món phở và nem luôn nhận được nhiều lời khen ngợi từ các sinh viên nước bạn. Vậy đã lần nào bạn tự hỏi mình đã từng khen (thật lòng và lịch sự) món ăn xa lạ của một nước khác chưa?
Học hỏi về sự khác biệt, học cách chấp nhận sự khác biệt rồi tôn trọng sự khác biệt là cả một quá trình đòi hỏi sự giáo dục kỹ lưỡng. Tôi thấy điều này thanh niên Tây có vẻ thấm nhuần hơn thanh niên ta. Các chương trình chống phân biệt đối xử với các nhóm người đặc biệt (đồng tính, khuyết tật, người thiểu số...) được lồng ghép vào chương trình học và cả trong sổ tay nhân viên các nơi công sở. Nếu bạn biết tôn trọng người khác dù họ khác màu da, tuổi tác, sở thích, đức tin tôn giáo, trình độ văn hóa... thì bạn sẽ nhận được sự tôn trọng ngược lại.
Và xa hơn nữa, bạn sẽ biết chấp nhận những ý kiến khác biệt, những tư tưởng phản biện. Đó chính là chìa khóa để thế giới này trở nên bao dung hơn, để cho những trải nghiệm thời trẻ của bạn trở thành một vốn sống vô giá giúp bạn thành công trên bước đường tương lai.