Thứ Ba, 22 tháng 5, 2012

CÔNG CUỘC TRUYỀN GIÁO TẠI QUÃNG NAM NĂM 1623 VÀ VẤN ĐỀ NGÔN NGỮ (TIẾP THEO)


Chú thích bên lề cho bản văn của Francisco de Pina.

Dữ liệu lịch sử và địa dư.

Các biến cố tại Macao.

Đầu thế kỷ XVII, người Hòa Lan tìm cách dùng sức mạnh để giành lấy ưu thế thương mãi của người Bồ Đào Nha tại Viễn Đông. Năm 1622, họ định thực hiện một cuộc tấn công lớn: chiếm lấy Macao là nơi chỉ huy cho toàn bộ các hoạt động Bồ Đào Nha trên khắp vùng Biển Đông. Ngày 23 tháng 06, một lực lượng gồm 14 con tàu (trong đó có hai tàu Anh quốc) phong tỏa hải cảng, và ngày 24 một đội quân 800 binh lính đổ bộ xuống bờ biển phía bên kia bán đảo. Lúc bấy giờ thành phố không có quân đội và chiến lũy, nhưng các tu sĩ Dòng Tên đã đứng ra xây dựng một công sự nơi đỉnh đồi bên trên nhà trường của mình, và trang bị bằng đại bác mua từ Manila và một phần do họ tự đúc lấy. Christoforo Borri, một linh mục từng phục vụ cùng với Pina tại Nam kỳ, chỉ huy một toán quân động viên tại chỗ và đánh trả quyết liệt, trong khi đó một linh mục khác đã bắn một phát đại bác rất may mắn, trúng ngay vào chiếc thuyền Hòa Lan chở thuốc súng. Thuyền nổ và gây cháy cho vài chiếc thuyền khác, đồng thời làm cho đô đốc Cornelis Reyerszoon bị thương, nên những người tấn công buộc phải vội vã rút lui. Các linh mục Dòng Tên, nổi danh nhờ chiến thắng vừa huy hoàng vừa bất ngờ ấy, được Thượng Viện Macao tặng thưởng bằng danh dự về thành tích vẽ vang kia, đề ngày 14 tháng 10 năm 1623.[1] Tuy nhiên thành phố đã yếu đi, và phải mất nhiều năm để vực dậy; đấy là lý do vì sao không có một con thuyền Bồ Đào Nha nào cập bến Hội An vào thời điểm mà Pina viết bức thư trên.

Giao thông đường biển giữa Macao và Việt Nam.

Vào lúc người Hòa Lan tấn công, cuối tháng 06, thì gió nồm mùa hè đang thổi, khiến cho tàu thuyền không thể nào đi từ Trung Hoa xuống Việt Nam; cuối tháng 10, mùa gió nồm này có khuynh hướng đổi chiều, giúp cho người ta có thể liều ra khơi. Điều này giải thích vì sao những tin tức về Macao không thể nào đến sớm hơn. Các thương thuyền thường khởi hành từ Macao vào cuối tháng 12, lúc mà gió bấc mùa đông thổi đều đặn. Việc buôn bán giữa Nhật Bản và Hội An thật là sầm uất vào thời điểm đó. Trung Hoa cấm người Nhật vào buôn bán trên lãnh thổ của mình, thế nên các thương gia dùng hải cảng Việt Nam làm nơi trung gian để đổi kim khí bạc lấy tơ lụa Trung Hoa. Đấy là một trong những nguyên nhân tạo sự thịnh vượng cho hai cộng động người ngoại quốc tại Hội An. Người ta ghi nhận được 124 con thuyền Nhật Bản đã cập bến từ 1604 đến 1635.[2]

Mùa thuyền mành.

Giữa một bên là Nhật Bản và Trung Hoa (kể cả Macao), và bên kia là miền trung Việt Nam, giao thông đường biển hoàn toàn lệ thuộc vào các gió mùa. Các thuyền mành đến là nhờ gió bấc mùa đông (thổi từ đông bắc xuống), mà thời kỳ gió thổi đều đặn nhất là từ cuối tháng chạp đến đầu tháng 02; các thuyền rời bến vào lúc gió nồm mùa hạ (thổi từ tây nam lên), và thời điểm lý tưởng là tháng 06, tháng 07. Như vậy, ‘Mùa Thuyền Mành’, tại Hội An, kéo dài khoảng 6 tháng, đấy là thời gian chủ yếu để giao dịch buôn bán.

Người Nhật Bản tại Hội An

Các linh mục dòng Tên có những mối tương quan đặc biệt đối với cư dân trong khu phố người Nhật tại Hội An, trong số đó có nhiều Kitô hữu bị trục xuất khỏi Nhật Bản; sở dĩ các linh mục dòng Tên chọn nơi đây làm một trong các nơi cư ngụ, ấy cũng là vì muốn phục vụ các nhu cầu tôn giáo của họ.

Cachão, hay Kẻ Chàm, Triều Đình

‘Triều đình’ ở đây là ‘phủ’ của vị quan tri phủ Quảng Nam, một nhân vật cao cấp, thường là con cả của chúa Nguyễn. Quyền hạn của ông mở rộng đến biên giới phía nam của nước này (từ năm 1611, biên giới ấy được xác định tại Đèo Cả). Nhưng đồng thời cũng là triều đình phụ của các chúa Nguyễn; họ thường đến đây để cư ngụ một số thời gian trong năm, từ năm 1570 bản thân họ được phong tước hiệu và thực thi nhiệm vụ toàn quyền Quảng Nam.

Pulo Cambi, hay Quy Nhơn

Địa danh ‘Pulo Cambi’, dưới ngòi bút của người Bồ Đào Nha, là một di sản của các thập niên đầu thế kỷ XVI, thời kỳ mà các chủ thuyền Bồ Đào Nha mướn các tài công và các hoa tiêu Mã Lai để đi lại trên Biển Đông. Địa danh này được ghi trên các bản đồ xưa.[3] Khởi đầu, đây là tên của một hòn đảo (Cù Lao Xanh, trong tiếng Mã Lai là Poulo Gambir), nhưng sau đó được dùng để gọi vùng bờ biển chung quanh. Các bản đồ Bồ Đào Nha phân biệt Pulo Cambi de Mar (ngoài biển) và Pulo Cambi de Terra (trên đất liền); địa điểm thứ hai này hẳn là Mũi Én, một bán đảo dài, mà đỉnh cao là một điểm mốc rất dễ thấy cho giao thông đường biển, che chắn cho cửa sông tại Bình Định. Đi ngược lên dòng sông, ta sẽ đến địa điểm mà thư này nhắc tới, nơi mà các linh mục đã thiết lập cơ sở thứ hai của họ tại Nam Kỳ. Các tài liệu dòng Tên vào thời kỳ ấy thường dùng một cái tên chính xác hơn cho địa danh này: ‘Nước Mặn’; trên các bản đồ có ghi ‘Nước Ngọt’ ở phía bắc; điều này cho phép ta suy ra rằng cơ sở dòng Tên tọa lạc gần cửa biển. Địa điểm này gần trùng với vị trí Vijaya xưa, sau này trở thành Chaban (Đã Bàn - Đồ Bàn), kinh đô của Vương quốc Champa từ thế kỷ XI đến thế kỷ XV, và sau đó sát nhập vào lãnh thổ Việt Nam năm 1570. Địa bàn này cũng được biết dưới cái tên là Quy Nhơn, mà các tài liệu Âu Châu có nhiều cách viết khác nhau, trước khi cái tên ấy được dùng để chỉ một thành phố cảng tân tiến, tọa lạc cách 25 Km về phía nam.

Các tôn giáo Việt Nam dưới cái nhìn của F. de Pina.

Các ‘giáo phái’

Thuật ngữ Bồ Đào Nha “seita” thời bấy giờ dùng để chỉ mọi tôn giáo ngoài tôn giáo của thành phần đa số (tại Bồ Đào Nha, các tôn giáo ấy là chủ yếu là Do Thái giáo và Hồi giáo). Thuật ngữ này được dùng trong thư để chỉ các tôn giáo và các hình thức thờ kính của người Việt Nam không phải là Kitô giáo. Pina dùng ở số nhiều (các giáo phái), điều này cho thấy rằng tình hình tôn giáo tại Việt Nam rất đa dạng.

Các chùa chiền và cộng đồng tín đồ.

Từ ngữ Bồ Đào Nha ‘pagode’, sau này người Pháp dùng trở lại, được sử dụng từ năm 1516. Từ ngữ này được Bồ Đào Nha vay mượn từ các ngôn ngữ Dra-vi-đa ở miền nam Ấn Độ (từ ngữø chuẩn là pagvadi, từ ngữ dân gian là pagôdi ); từ ngữ này xuất phát từ tiếng Phạn bhagaviti (nguyên gốc là ‘nữ thần’, nghĩa là thần Durga hay Cali). Ngữ nghĩa đã chuyển biến: thoạt đầu, từ ngữ này dùng để chỉ những ảnh tượng các thần bản địa mà Kitô giáo không biết, sau đó ngữ nghĩa mở rộng ra và chỉ định các tòa nhà văn hóa Ấn giáo, rồi Phật giáo.

Từ ngữ Bồ Đào Nha “freguesia” có hai nghĩa khác nhau, nhưng liên hệ với nhau: nghĩa thứ nhất là ‘thân chủ’, nghĩa thứ hai là ‘cộng đồng’. Trong lãnh vực tôn giáo, ‘freguesia’ là tập hợp những người có liên hệ với một nhà thờ, hay với vị linh mục chủ chăn. Từ này được sử dụng ở đây theo nghĩa tương tự để chỉ những thực tại tôn giáo tại Việt Nam: tập hợp những người thường đi chùa, hay đến nghe một vị sư giảng đạo. Ở một nơi khác, Pina nối liền các từ ‘igreja’ (nhà thờ) và ‘freguesia’ (paroisse, cộng đoàn giáo xứ): kế hoạch của ông đối với Kẻ Chàm vừa là để có một nơi thờ phượng vừa là thành lập một ‘cộng đoàn giáo xứ’, nghĩa là có một nơi qui chiếu và hoạt động cho một cộng đoàn Kitô hữu tự túc.

Giống như các nhà thờ công giáo tại Bồ Đào Nha, các nhà chùa Việt Nam có thể làm chủ những của cải và được nhận thu nhập từ đất đai, dùng cho nhu cầu thờ phượng và nuôi sống giới tu trì. Của cải này là do chính quyền hay một nhận vật có chức tước hiến tặng, hoặc là do các tín đồ dâng cúng hay di tặng. Bức thư của Pina dự kiến rằng Kitô giáo có thể kế thừa một ngôi chùa, cùng với của cải và thu nhập điền thổ. Hình thức tự túc tài chánh này của một giáo điểm Kitô giáo đã không thành công lâu dài tại Việt Nam.

Các “bonzo», ông sãi, nhà sư Phật Giáo

Từ ngữ “bonzo” là một từ mà tiếng Bồ Đào Nha vay mượn từ tiếng Nhật (ngôn ngữ chuẩn: bò-shu, bò-zu hay bôu-zu, ngôn ngữ dân gian: bòn-zu); hai tiếng trong từ này (tiếng Hoa là fang zhu) nghĩa đen là ‘người trưởng cộng đồng”. Trong tiếng Bồ Đào Nha, ví dụ trong tác phẩm của Fernão Mendes Pinto[4], từ ấy chỉ định các tu sĩ hay những người cử hành các nghi lễ thờ phượng của Phật giáo hay những đạo chịu ảnh hưởng Phật giáo. Không chắc là thời bấy giờ từ ấy mang nghĩa miệt thị trong tiếng Nhật ngày nay (hiện tại, người ta chuộng từ bosan). Francisco de Pina và các anh em linh mục của ông, thành viên ‘Tỉnh Dòng Nhật Bản’ của dòng Tên, thực thi một phần công tác mục vụ cho những Kitô hữu người Nhật tại Hội An và họ nói tiếng Nhật trôi chảy, như bức thư có đề cập đến.

Các nhà sư Phật giáo tại Việt Nam được nhận chức danh khả kính là ‘sư ông’ khi đạt đến một cấp bậc nhất định, hoặc nhờ tuổi tác hay kiến thức; đây là một từ ngữ Hán Việt, mà ‘ông sãi’ là từ ngữ bình dân. Sở dĩ Pina gắn liền một từ ngữ Bồ Đào Nha với một từ ngữ Việt Nam hẳn là vì ông muốn cho thấy rằng từ ngữ này được sử dụng như một tính từ, chỉ định một tầng lớp nhà sư đặc biệt. Hình như đây là tầng lớp mà vào đầu thư ông gọi là ‘tôn sư và lãnh đạo’, đấy là những người mà các vị thừa sai sẵn sàng trao phó nhiệm vụ giáo dục khi họ theo đạo.

Các «Bicuni », sư cô Phật Giáo

Từ ngữ này đôi khi được chuyển sang tiếng Pháp là «bonzesse», nó được sử dụng trong trong văn nói Bồ đào Nha tại Phương Đông dưới dạng là bicunibicunim, hai chữ này phát âm gần giống nhau. Đây là một từ vay mượn của tiếng Pali bhikkhuni, bắt nguồn từ tiếng Phạn bhiksuni. Nó được sử dụng từ năm 1564, trong những nơi có mặt người Bồ Đào Nha tại Nhật Bản, để chỉ định một cộng đồng nữ tu sĩ Phật Giáo: « Está hum mosteiro de freiras em Funáy, as quaes em Japão se chamão bicunĩs, que tem grossa renda, e pelo principe saber que ordinariamente as bicunins são de mao viuer, dizem... »[5] - “Tại Funai có một tu viện cho nữ tu; người Nhật gọi họ là bicunis; họ có những giao tiếp rộng rãi, và quí vị cần biết rằng các bicunis này thường sống bê bối, người ta bảo vậy...” Hiện nay, trong ngôn ngữ chuẩn không có từ ấy, nhưng ta có thể liên hệ với từ ngữ tiếng Việt “(bà) cô ni” (ni cô), để chỉ một nữ tu sĩ Phật Giáo ở một cập bậc nhất định hay đã có tuổi. Ta lưu ý rằng từ ngữ này từng xuất hiện trong môi trường Kitô giáo: một văn bản do hội đồng dòng Tên tại Macao soạn thảo vào khoảng 1615 đã dùng từ này để chỉ định một nhóm phụ nữ có vẻ là Kitô giáo, bị lưu đày ra khỏi Nhật Bản và sống cộng đoàn.[6]

Các khía cạnh của việc truyền giáo tại Việt Nam mà F. de Pina mô tả.

Lei dos Portugueses, Hoa Lang Đạo, Đạo (Luật) Pha Lang

Vào thế kỷ XVII và thế kỷ XVIII, người Việt Nam thường gọi Kitô giáo là ‘Hoa Lang Đạo’; các văn kiện Kitô giáo thời bấy giờ quen dùng cụm từ này để dịch ”Lei dos Portugueses”. Alexandre de Rhodes có nhắc đến trong sách giáo lý của mình, để phủ nhận cách gọi ấy, tuy nhiên ông phiên âm cách đọc khác của chữ nho được dùng để viết cụm từ này: “Chớ có nói đạo này là đạo (luật) pha lang”, và ông dịch ra tiếng La tinh: “Neque dicatis hanc esse Lusitanorum legem”.[7]

Các cuộc đối lý đối lẽ.

Các cuộc đối lý đối lẽ được ghi nhiều lần trong thư đều liên quan đến các niềm tin tôn giáo. Chúng nhằm khẳng định tính ưu việt của tôn giáo này so với tôn giáo kia, chủ yếu là qua những cuộc tranh luận. Các cuộc đối lý này được mô tả trong những nguồn tài liệu khác.[8]

Ảnh tượng,Imagem

Thuật ngữ Bồ Đào Nha « imagem » được sử dụng trong môi trường tôn giáo nhằm chỉ định những tác phẩm trình bày các thánh dưới dạng hoặc là pho tượng hoặc là họa phẩm hay tranh ảnh in tay. Tuy nhiên, trong bức thư, hình như Pina chủ yếu nghĩ đến các tác phẩm hai chiều, đặc biệt là các họa phẩm

Thầy Tadeu (Tađêô)

Lời kêu gọi của Pina không được đáp trả, và nhà tu hành họa sĩ kia, cư ngụ tại Macao, chưa bao giờ thi thố tài năng trên lãnh thổ Việt Nam. Ta hãy lưu ý rằng các giáo điểm của dòng Tên Bồ Đào Nha đã khơi dậy một nền nghệ thuật Kitô giáo gắn liền với các lề luật của Giáo Hội địa phương tại Ấn Độ và Nhật Bản; tuy nhiên dường như tại Việt Nam thì điều này không đúng, nhưng chưa có cuộc nghiên cứu sâu sắc nào về vấn đề này.[9] Dĩ nhiên, Pina có ý hội nhập khía cạnh văn hóa này vào đời sống cộng đoàn Kitô hữu Việt Nam tiên khởi.

Mẹ cô Gioanna.

[Trong bức thư, Pina dùng lại cách nói của người Việt]. Nhiều văn bản thời ấy cho thấy cách gọi tên trong xã hội Việt Nam: người ta gọi tên những người lớn tuổi bằng cách đó, nghĩa là gọi tên của người con trai (trường hợp này là tên người con gái) để tôn trọng họ. Bà lớn mà Pina đề cập thì được sử gia dòng Tên của thế kỷ XVII, Daniello Bartoli, nhắc đến khi nghiên cứu các tài liệu và chứng từ.[10] Không biết tên Việt Nam của bà này là gì, nhưng tên thánh của bà là Phanxica. Bà thuộc thành phần những Kitô hữu hiếm hoi mà các linh mục dòng Tên gặp được khi họ đến đấy vào năm 1615. Bà bảo rằng mình được rửa tội khoảng ba mươi năm trước, do một nhà thừa sai Phanxicô (hẳn là linh mục người Tây Ban Nha Bartolomeu Ruiz, có mặt tại Kẻ Chàm những năm 1584-1586[11]). Con gái của bà đã được rửa tội sau này, có lẽ là do cha Rafael de Madre de Deus, thừa sai người Bồ Đào Nha dòng Âu Tinh, ông này hoạt động trong vùng ấy giữa năm 1596 và năm 1601. Niên giám của João Álvares kể lại một giai thoại liên quan đến việc mua bất động sản mà Pina đã nêu. Bà này đã dùng ảnh hưởng của mình để tạo thuận lợi cho giáo điểm: “Năm 1619 xảy ra một cuộc bắt đạo rộng lớn. Trong cuộc bách hại này, có một Thượng Tọa rất căm ghét đức tin chúng ta, nên ông thuyết phục nhà vua trục xuất các Linh Mục và phá hủy các nhà thờ; tuy nhiên các nhà thờ vẫn đứng vững tại Kẻ Chàm dưới tên gọi là nhà của ‘Mẹ cô Gioanna’; bà này là người em hay người cháu của một quan lớn.”[12]

Cha Marques

Đây là cha Pêrô Marques (tên ông còn được viết là ‘Pedro’ và ‘Marquez’), linh mục dòng Tên người Bồ Đào Nha, sinh năm 1575 trong vùng Alentejo thuộc Bồ Đào Nha; ông được biết đến vì từng là bạn đồng hành và là bề trên của Alexandre de Rhodes trong chuyến đi đầu tiên của Dòng Tên đến Bắc Kỳ năm 1627. Là một cựu thừa sai bị trục xuất từ Nhật Bản sang Macao năm 1615, ông đã trú ngụ tại Nam Kỳ từ 1617 đến 1619 hay 1620, và tại Bắc Kỳ từ 1627 đến 1630. Vài tác giả bảo rằng ông là người Nhật, nhưng đây là một sự nhầm lẫn với một người trùng tên trẻ hơn, sinh tại Nhật Bản. Pêrô Marques không đóng một vai trò nào trong việc sáng tạo chữ quốc ngữ: Rhodes lưu ý rằng ông không nói được tiếng Việt.[13]

Furumai

Từ ngữ « furumai » không được ghi trong từ điển Bồ Đào Nha, từ này được trực tiếp vay mượn của tiếng Nhật, và chỉ định một tập quán Nhật bản đặc thù, mà ngày nay vẫn còn được duy trì dưới tên gọi ấy. Đây là một lễ hội thân mật bao gồm tiệc tùng, nhảy múa...

Trong lịch công giáo, thánh Inhã Loyôla được mừng vào ngày 31 tháng 07 (từ 1608) và thánh Phanxicô Xaviê vào ngày 2 tháng 12 (từ 1619 đến 1663). Pina thấy những ngày này có vẻ thích hợp để tổ chức lễ furumai cho những cư dân Nhật Bản tại Hội An, bởi vì chúng đến ngay sau khi các thuyền mành khởi hành và không lâu trước khi thuyền cập bến, nghĩa là vào thời gian mà cư dân Hội An có thể sống cuộc sống ít tất bật hơn, và có những sinh hoạt xã giao trầm lắng hơn.

Mặt khác, Pina hẳn muốn qua đó làm nổi bật ngày lễ của hai vị thánh từng đem lại vinh quang cho dòng Tên: thánh Inhã Loyôla (Inõigo López de Loyola, 1491-1556) là người sáng lập dòng; và thánh Phanxicô Xavier (Francisco de Jasu y Javier, 1506-1552) là vị thừa sai tiêu biểu của dòng và là người sáng lập cộng đoàn Kitô hữu Nhật Bản (năm 1549). Hai vị này được phong thánh cùng một lúc tại Rôma, ngày 12 tháng 03 năm 1622, vào dịp khánh thành Thánh Đường Phêrô tại Vatican. Tầm quan trọng biểu trưng của biến cố kép này là một biểu hiện vẽ vang cho chiến thắng của đức tin công giáo; bầu không khí ấy khiến cho lễ của hai vị mang một âm vang thời sự.

Giáo lý

Thuật ngữ Bồ đào Nha «catecismo» trước tiên dùng để chỉ định một tập sách tóm lược các giáo điều cần phải giảng dạy; kế đến, nó được áp dụng để chỉ việc dạy dỗ giáo lý. Nội dung bức thư rất hàm hồ về điểm này. Hẳn Pina muốn nói rằng ông đã bắt tay vào việc soạn thảo một tập sách giáo lý tiếng Việt, viết bằng mẫu tự la tinh: từ năm 1618, các nhà thừa sai đã ghi ra chữ viết những điều sơ đẳng, để sử dụng cho chính mình và cho các giáo lý viên Việt Nam, mà tất cả đều là tân tòng.[14] Tại Nhật Bản, từ lâu đã có một cuốn giáo lý đầy đủ rồi: Alessandro Valignano từng cho in cuốn giáo lý của mình tại Lisbonne từ năm 1586, dưới nhan đề là Catechismus christianae fidei, in quo veritas nostrae religionis ostenditur, & sectae Iapanicenses confutantur : "Giáo lý về đức tin Kitô giáo, cho thấy những chân lý của đạo chúng ta, và những sai lạc của các giáo phái Nhật Bản” Tựa đề của tác phẩm này cho cho thấy mối quan tâm gần giống với các linh mục dòng Tên tại Nam Kỳ. Năm 1623, khi Pina viết bức thư này, một cuốn sách giáo lý Nhật Bản khác đã được soạn thảo và đang được cho ấn hành tại nhà in của dòng Tên tại Nhật Bản.

Ngay từ năm 1632, một cuốn sách giáo lý đã được ấn hành tại Thăng Long. Theo những kiến thức có được cho đến nay, ta không thể nào biết rõ có hay không một sự kế thừa giữa sách giáo lý mà Pina viết hoặc sử dụng, sách của Thăng Long (mà ta chỉ biết rằng từng hiện hữu mà thôi), và sách của Alexandre de Rhodes.[15]

Vấn đề tài chánh tại giáo điểm.

“Họ đã không cung cấp cho chúng con.”

Ở đây, Pina phàn nàn những người khác hơn là vị bề trên mà ông viết bức thư này, và một trong những người ấy là người nắm quyền hạn thực sự trong vấn đề kinh tế tài chánh. Đó là ‘linh mục quản lý Tỉnh Dòng Nhật Bản’, nghĩa là người thủ quỹ dòng Tên của tỉnh dòng Nhật Bản, là tỉnh dòng của các linh mục dòng Tên tại Nam kỳ; linh mục ấy cư ngụ tại Macao. Theo sổ sách tháng 12 năm 1623, chức vụ này được trao cho một nhà ngữ học tiếng Nhật nổi danh là linh mục Bồ Đào Nha João Rodrigues Tçuzzu.

Tình trạng tài chánh của các linh mục dòng tên Tỉnh dòng Nhật Bản đang gặp nhiều khó khăn do ba biến cố: Nhật Bản đóng cửa đối với việc buôn bán của Bồ Đào Nha, một nguồn thịnh vượng thực sự cho Macao; giao thông đường biển thiếu an toàn, vì người Hòa Lan truy lùng các tàu thuyền mang cờ Bồ Đào Nha; và chiến tranh giữa Trung Hoa và Mông Cổ, và tình trạng bất ổn định của Trung Hoa tác động vào Macao. Đối với dòng Tên, việc giành lại các quyền lợi và thu nhập địa tô, nhờ đặc quyền vua ban cho họ tại Malaca và Goa, trở thành một vấn đề nan giải. Việc trợ cấp tài chính cho giáo điểm mới tại Nam Kỳ trên nguyên tắc là lấy tiền xuất phát từ quyền thu thuế hải quan tại Malaca.[16] Nhưng quyền này đã bị đe dọa, bởi vì trên thực tế Bồ Đào Nha đã mất độc quyền buôn bán gia vị, và Macao đã có thói quen chuyển hàng hóa mua từ Viễn Đông sang Nhật Bản, Trung Hoa và Manila. Năm 1620, các linh mục dòng Tên phàn nàn với chính quyền nhà vua rằng các quyền ấy chưa tôn trọng trong vòng 5 năm qua, khiến chính quyền phải làm một cuộc điều tra. Phó vương Francisco da Gama trả lời vào năm 1623 rằng các tu sĩ đã làm tiêu tan ngân sách Nhà Nước... mà không nói rõ rằng các công chức Nhà Nước có thói quen sử dụng ngân sách đó trước tiên, và sử dụng buông tay, nên các quỹ tại Kho Bạc thường xuyên trống rỗng.[17] Ngày 28 tháng 01 năm 1624, linh mục dòng Tên quản lý Tỉnh Dòng Nhật Bản gởi cho các bề trên tại Rôma một lời cầu cứu, qua đó ông nói đến một món nợ đã chồng chất lên đến 12566 lượng bạc, ngân sách hằng năm của các giáo điểm lên đến con số 1309 lượng.[18] Để đáp ứng các nhu cầu trước mắt của giáo điểm Nam Kỳ, do đường biển thiếu an toàn, nên năm 1621, các bề trên tại Macao quyết định rằng cộng đoàn Nhật Bản phải thỏa mãn các nhu cầu ấy ‘một cách nhanh chóng và dồi dào’, bởi vì các thuyền Nhật Bản không bị Hòa Lan đe dọa. Nhưng một bức thư dài viết từ Nhật Bản, đề ngày 06 tháng 09 năm 1622, yêu cầu các linh mục phụ trách tại Macao làm sáng tỏ một số vấn đề và đưa ra những chị thị rõ ràng hơn;[19] trong thời gian ấy, không ai làm gì cả. Dù sao đi nữa, hoàn cảnh của dòng Tên tại Nhật Bản cũng bấp bênh, và chẳng bao lâu sau đã trở nên bi đát.

Do các khó khăn kinh tế, vị ‘phụ trách’ (bề trên toàn quyền) Manoel Fernandes đã được phái đến Nam Kỳ năm 1622 với chỉ thị là tiết kiệm tối đa, và ông đã tuân giữ sít sao. Chính việc điều chỉnh này đã khiến cho Pina không hiểu và cảm thấy chua chát: về phần mình, ông đặt ưu tiên cho những mục tiêu mà giáo điểm theo đuổi, và sau đó mới đến các phương tiện được xem là tối cần thiết, mà ông cảm thấy thật thiếu thốn. Ông yêu cầu vị bề trên largar a mão (mở rộng bàn tay): hoặc là giúp đỡ thêm tài chính để thực hiện chương trình huấn luyện hữu hiệu hơn; hoặc cho linh mục thừa sai được tự do hơn để chọn và nhận những học viên trẻ; và ít nhiều ông cũng muốn yêu cầu hai biện pháp cùng một lúc.

Những trợ tá người Việt tại giáo điểm

Thanh niên giúp việc.

Trong ngôn ngữ Bồ Đào Nha, từ ‘bicho’, một tiếng lóng trong giới sinh viên, có nghĩa là những học sinh trung học. Trong ngôn ngữ nói của người Bồ Đào Nha tại Macao, chữ ấy xưa kia có nghĩa là một thanh thiếu niên, thường là mồ côi hay bị bỏ rơi, sống trong một gia đình để giúp việc trong nhà, và do đó, nghĩa rộng là những người giúp việc còn trẻ tuổi. Trong thư này, hẳn là tác giả sử dụng theo nghĩa thứ hai.

Jurubaça, thông ngôn.

Từ ngữ Bồ Đào Nha « jurubaça », hiện nay không còn được sử dụng, nhưng từng được dùng khi người Bồ Đào Nha có mặt tại Phương Đông. Từ ngữ này được vay mượn từ tiếng Mã Lai (juru+bahasa, từng chữ có nghĩa là ‘thầy ngôn ngữ’), nghĩa là thông ngôn. Lần đầu tiên được sử dụng trong văn chương Bồ Đào Nha là dưới ngòi bút của Fernão Mendes Pinto[20]& despois de nos andar vendo a todos hu & hu, chamou o Iurubaça que consigo trazia, que, como ia disse, era o seu interprete... » - «Và sau khi nhìn chằm chặp từng người chúng tôi, ông gọi anh jurubaça mà ông đem theo với mình; và như tôi đã nói, anh này là người thông ngôn của ông.”

Việc truyền giáo và vấn đề ngôn ngữ.

Tiếng Nhật, tiếng Bồ, tiếng An Nam.

Phải hiểu rằng một mặt, chỉ hai ngôn ngữ này (Nhật, Bồ) được sử dụng trong nhà của các linh mục dòng Tên, dù ngoài phố người ta nói những ngôn ngữ khác; nhưng mặt khác, hai ngôn ngữ này là đủ cho sinh hoạt hằng ngày, nên không ai bị thôi thúc phải học tiếng Việt. Nhà của các linh mục dòng Tên tọa lạc trong khu phố Nhật Bản tại Hội An. Từ ngữ “An Nam” rất hiếm thấy trong các tài liệu Bồ Đào Nha vào thời ấy, từ này đôi khi được dùng để chỉ định tiếng Việt. Có lẽ Pina chủ ý sử dụng từ này để nói đến ngôn ngữ chung của hai Miền Việt Nam: từ ngữ “Nam Kỳ” sẽ bó hẹp nghĩa đi. Vì ông từ Macao đến, nên ông không thể không biết đến cái tên mà người Hoa gọi nước Việt Nam.

Những tập sách có lý giải

Từ ngữ Bồ Đào Nha «cartapácio», dịch là ‘tập sách’, nghĩa đen là những quyển sách cổ, đặc biệt là sách viết trên giấy folio, hoặc những tuyển tập các văn bản viết tay được đóng lại thành sách; nghĩa bóng là những cuốn sách thần bí cổ. Phần tiếp theo của bức thư khiến ta hiểu từ này theo nghĩa đen. “Arrazoado”, “có lý giải”, được dùng để xác định cho nội dung, có lẽ là những chú thích ngữ văn, những lời giải nghĩa cho một số từ hay một số cấu trúc. Thử đưa ra một giả thuyết: có thể đấy là những kinh sách cổ điển viết bằng chữ Hán kèm với các giải thích bằng chữ nôm.

Câu tiếng Việt mà Francisco de Pina trích dẫn.

Chữ viết của bản văn thì rất khó đọc, và phải dựa trên giả thuyết mà phục hồi. Trong bản chính, người sao chép đã viết: “Chà phải, ou phai, ou phai”. Việc lặp lại cụm từ thứ hai là do sang trang: người sao chép thường ghi lại một hai từ ở cuối trang trước và đầu trang sau để giữ cho mạch văn được liên tục; do đó không cần phải lưu ý đến điểm này. Như vậy, ta có thể dựa trên giả thuyết mà đọc ra, theo đúng luật chính tả của chữ quốc ngữ hiện nay: “Chẳng phải, ông phải”. Sau đây là lý do vì sao có thể đọc như thế.

1. Dấu trên chữ thứ nhất mà người sao chép ghi lại có thể là dấu mũ ngược, dấu chỉ một âm ngắn, từng là dấu viết tắt mà chữ quốc ngữ sử dụng vào thời kỳ đầu để biểu đạt tận cùng của các nguyên âm mũi, gồm: «-aoÊ» (= «-ong» trong cách viết hiện nay) ; «-ouÊ» (= «-ông »), và «-uÊ» (= «-ung »). Ở đây, chữ “chà” được dùng tương đương với cách viết hiện nay “chẳng”. Dấu bán nguyệt trên nguyên âm “a” (ă) được xem là không bắt buộc trong những ngày đầu đề ra lý thuyết chữ quốc ngữ và dấu ấy thường bị bỏ qua trong các văn bản. Từ “chẳng”, dùng để phủ định, thường được dùng trong các văn bản thời ấy, hiện nay người Việt Nam có khuynh hướng dùng từ ‘không’.

2. Đối với chữ thứ hai, dấu được ghi lại bởi người sao chép ở thế kỷ XVIII, một người không biết gì về quốc ngữ, có thể đọc hoặc là dấu ‘sắc’ (‘phái’; trong bản chép tay này không thấy có dấu sắc), hoặc là dấu ‘hỏi’, một dấu chỉ có trong quốc ngữ mà thôi. Đến khi nào tìm được bản gốc do Pina tự tay viết thì mới có thể chắc chắn có đúng đây là lần đầu tiên dấu cung điệu xuất hiện trong lịch sử hay không. Đấu cung điệu có thể bị người sao chép vô tình bỏ đi đối với chữ thứ tư của cụm từ trên, cũng giống như đối với chữ thứ nhất.

3. Đối với chữ thứ ba, cách viết ‘ou’, đúng ra là “ouê” (thay vì ‘ông’ hiện nay), được xác nhận lại ở nơi khác: đây là giả thuyết mà chúng tôi chọn. Chữ thứ nhất có thể là chữ ‘cha’ hiện nay (tiếng gọi cung kính dành cho linh mục), vì người ta cũng tìm thấy ở nơi khác chữ này được viết là ‘chà’, ít ra là trong một văn bản xưa hơn, mà hiện nay chưa được phổ biến. Chữ thứ ba cũng có thể là liên từ ‘ou’ trong tiếng Bồ Đào Nha, có nghĩa là ‘hoặc, hay’. Nếu ta chấp nhận cách đọc hai chữ như thế (= chà phải, hay phai), thì câu trích dẫn này có thể là một lời chế nhạo đối với người ngoại quốc kia, một người không thể phân biệt được cung điệu nên nói ‘chà’ thay vì ‘cha’ và nói ‘phai’ thay vì ‘phải’. /.






[1] BA, Jesuítas na Ásia, tập 49/V/5, tờ. 511v-514v)

[2] Xem Anthony Reid, « Economic and Social Change c. 1400-1800 », trong The Cambridge History of Southeast Asia, quyển 1., Cambridge (G.-B.) : Cambridge University Press, 1992, tr. 467

[3] Xem Pierre-Yves Manguin, Les Portugais sur les côtes du Viêt-Nam et du Campa, Étude sur les routes maritimes et les relations commerciales, d’après les sources portugaises des XVIe, XVIIe et XVIIIe siècles: Người Bồ Đào Nha trên bờ biển Việt Nam và Champa (Chàm), Nghiên cứu về các đường biển và các giao dịch thương mại, dựa theo những nguồn tài liệu Bồ Đào Nha của các thế kỷ XVI, XVII và XVIII. Paris : ÉFEO, 1972

[4] Peregrinaçam, chương. 78. Tác phẩm này được viết vào khoảng 1580, và xuất bản năm 1614

[5] Luís Fróis, Cartas de Japão, tập 1, tờ 425.

[6] Xem Biblioteca da Ajuda, Jesuítas na Ásia, quyển 49/V/5, tờ. 204.

[7] Catechismus pro ijs, qui volunt suscipere Baptismum, in octo dies divisus. Phép giảng tám ngày..., Xuất bản tại Rôma 1651, trang 25. Xem Roland Jacques, « Nguồn gốc và ý nghĩa tên gọi “Hoa lang” và “Hoa lang đạo » Định Hướng, 14, Mùa Đông 1997, tr. 125-134.

[8] Ví dụ Niên Giám Nam Kỳ (Annua de Cochinchina) ngày 31/8/1621 (Biblioteca da Ajuda, Jesuítas na Ásia, quyển. 49/V/7, tờ 255-266). Xin tham chiếu tác giả Nguyễn Hồng, Lịch-sử truyền-giáo ở Việt-Nam, tập 1, Các thừa sai Dòng Tên 1615-1665, Sài Gòn, Hiện Tại, 1959, tr. 67-76; ông đã trích dẫn linh mục Dòng Tên Daniello Bartoli, Dell’Historia della Compagnia di Giesù: La Cina, terza parte dell’Asia, Rôma, 1663.

[9] Đối với Nhật Bản, xem bản tổng hợp đặc sắc của Charles Boxer, « Alguns aspectos da influência portuguesa no Japão », trong Revista de Cultura (Macao), bộ thứ nhì, 1/7/ 1993, trang 73-100 (trang 86-88 đối với các họa phẩm). Theo Boxer, các linh mục dòng Tên đã dạy nghệ thuật cho nhiều dojukus (đồ đệ) và phụ tá của họ; nhưng đa số chỉ cố gắng sao chép thật trung thực các mẫu họa phẩm tôn giáo của Âu Châu, số người biết sáng tạo chỉ là ngoại lệ. Không thấy ghi tên thầy Tadeu (Tađêô)

[10] Dell’Historia della Compagnia di Gesù, Xuất bản tại Naples, 1859, quyển IV, tr. 181.

[11] Một tường thuật về thời gian cư ngụ của Ruiz tại Việt Nam có nhắc đến tên bà này: xem Thư Viện Quốc Gia Lisbonne, Codex 11098, tờ 247-349.

[12] Bản dịch thoát ý từ một văn bản trong Thư Viện Ajuda (Biblioteca da Ajuda), Jesuítas na Ásia, quyển 49/IV/66, tr. 81-82.

[13] Histoire du Royaume du Tunquin, Lyon, 1651, tr. 127

[14] Tài liệu lưu trữ lịch sự của dòng Tên, Jap.-Sin., quyển. 114, tờ. 176-185.

[15] Đối với các sách giáo lý Nhật Bản, và những tác phẩm giáo lý khác của dòng Tên tại Trung Hoa, xem phần nhập đề của Nguyễn khắc Xuyên trong lần tái bản cuốn Giáo Lý của Alexandre de Rhodes: Phép Giảng Tám Ngày - TP.Hồ Chí Minh: Tủ Sách Đại Kết, 1993, tr. XII-XIII et XX-XXIII. Cầm phải tiếp tục nghiên cứu đối chiếu có hệ thông giữa các tác phẩm này với sách giáo lý của Alexandre de Rhodes , hầu tìm xem có một sự kế thừa nào chăng.

[16] Xem Biblioteca da Ajuda, Jesuítas na Ásia, quyển 49/V/5, tờ 204.

[17] Về vấn đề này, xem nghiên cứu của Manuel Teixeira, A diocese portuguesa de Malaca (Giáo phận Malaca thuộc Bồ Đào Nha). Macao. Boletim Eclesiástico, 1957, tr. 242.

[18] Biblioteca da Ajuda, Jesuítas na Ásia, quyển. 49/V/6, tờ 153-157v. :

Theo các ước lượng, số nợ nêu trên tương đương với hơn 9200 pataca Macao (đơn vị tiền tệ bằng vàng, tương đương với một nén) hay 23000 xêraphin, hay hơn 7 triệu réal Bồ Đào Nha (đơn vị tiền tệ thời ấy) - một số tiền thật lớn.

[19] Biblioteca da Ajuda, Jesuítas na Ásia, quyển 49/V/6, tờ 463v-467

[20] Peregrinaçam, đoạn 140.