Thứ Năm, 27 tháng 9, 2012

MÉTANOIA PHƯƠNG DIỆN BÍ TÍCH VÀ GIÁO LUẬT (DÀN BÀI)


 
(Bí tích Thống hối - khía cạnh pháp lý và mục vụ) 

Linh mục Giuse Huỳnh Văn Sỹ

*****

DÀN Ý CHI TIẾT

DẪN NHẬP

Giới hạn đề tài: xét khía cạnh pháp lý và mục vụ của Métanoia qua bí tích thống hối. Tên gọi bí tích hoán cải, bí tích thống hối, bí tích thú tội, bí tích tha tội và bí tích giao hòa[1].
- Cái nhìn chung đề tài: bản chất và ý nghĩa của bí tích thống hối; việc cử hành; thừa tác viên (cha giải tội) và chủ thể (hối nhân) của bí tích nầy với những quyền, bổn phận, ý thức, thái độ cần có trong việc cử hành bí tích thống hối.
I. BẢN CHẤT VÀ Ý NGHĨA CỦA BÍ TÍCH THỐNG HỐI
Giáo luật điều 959. Lưu ý vài điểm chính:
1. Sự cần thiết của bí tích thống hối
Trong bí tích sám hối, chúng ta được tái sinh trong tinh thần nhờ sự chết của Đức Kitô, Đấng đã chết vì tội lỗi nguyên tổ và tội của mỗi người chúng ta đã phạm sau khi chịu bí tích rửa tội[2].
2. Hiệu quả chính của bí tích thống hối
Bí tích thống hối tái lập lại tương giao giữa hối nhân với Đức Kitô và với Hội Thánh[3].
Việc đó được thực hiện nhờ thừa tác vụ linh mục.
3. Những điều kiện để lãnh nhận bí tích thống hối
- Ăn năn sám hối về những tội lỗi đã phạm. Được thúc đẩy nhờ đức tin, qua việc hoán cải, con người hồi tâm, trở lại với Thiên Chúa. Đó cũng là ý nghĩa chính yếu của từ Metanoia.
- Quyết tâm sống đời sống mới.
- Xưng thú tội đã phạm với linh mục và nhận lời xá giải của linh mục đó.
II. NGHI THỨC CỬ HÀNH BÍ TÍCH THỐNG HỐI
Theo sách Sách nghi thức bí tích thống hối (Ordo Paenitentiae) có ba hình thức cử hành bí tích thống hối.
1. Các hình thức cử hành bí tích thống hối
Giáo luật lấy lại những nghi thức phụng vụ của bí tích nầy như vừa nói trên (Ordo Paenitentiae) với những qui định cụ thể kèm theo.
a. Hình thức thông thường: xưng tội, giải tội riêng
Theo điều 960, có hai hình thức thông thường để cử hành việc xưng tội riêng và giải tội riêng:
- Xét mình từng cá nhân, mỗi người xưng tội và nhận lời xá giải riêng từng người (xét mình riêng, xưng tội riêng, giải tội riêng). Mỗi hối nhân đến gặp cha giải tội để xưng thú tội lỗi, và lãnh ơn tha thứ.
- Việc xét mình chung nhiều hối nhân cùng lúc nhưng việc xưng tội và nhận lời xá giải phải riêng từng người (xét mình chung, xưng tội riêng, giải tội riêng).
b. Hình thức ngoại lệ: giải tội tập thể
Điều 961 cho thấy đây hoàn toàn là trường hợp ngoại lệ (exceptio)[4] nên phải giải thích chặt chẽ theo giáo luật[5].
2. Qui định về nơi chốn và phẩm phục
- Nhà thờ, nhà nguyện là nơi thích hợp ban bí tích nầy.
- Phải liệu sao tòa giải tội đặt nơi dễ thấy và có màn ngăn thích hợp giữa hối nhân và cha giải tội.
- Về phẩm phục: áo các phép và dây stola màu tím.
3. Áp dụng cử hành bí tích thống hối trong mục vụ
Điều 986§1, hãy ấn định ngày giờ để sẵn sàng đón tiếp các hối nhân. Tránh việc giải tội khi thánh lễ đang cử hành.
Vào mùa chay cần tổ chức những buổi phụng vụ thống hối và giải tội theo như qui định của nghi thức bí tích đề ra.
Tránh cách Giáo luật hay Ordo Paenitentiae không nói.
III. THỪA TÁC VIÊN BÍ TÍCH THỐNG HỐI
1. Năng quyền giải tội
a. Quyền thánh chức và năng quyền giải tội
Giáo luật điều 965: «Chỉ có tư tế là thừa tác viên bí tích sám hối». Đó là nhiệm vụ chỉ dành những người có chức tư tế, được ban quyền thánh chức Sacra Potestas.
Để thực thi bí tích giải tội hữu hiệu và hợp pháp linh mục còn cần phải có năng quyền (facultas) nữa.
b. Ban cấp và sử dụng năng quyền giải tội
Năng quyền giải tội do chính luật
- Theo điều 967§1, Đức Thánh Cha, các Hồng y có năng quyền giải tội và có thể hành sử năng quyền nầy trong toàn thể Hội Thánh khắp thế giới và cho mọi người tín hữu mà không bị giới hạn bởi các bản quyền địa phương.
Năng quyền giải tội do chức vụ
- Bản quyền địa phương có năng quyền giải tội nhờ chức vụ và có thể hành sử trong phạm vi lãnh thổ của mình và đối với những thuộc cấp của mình dù ở ngoài lãnh thổ (đ. 968§1).
- Các bề trên các dòng tu và Hội dòng Tông đồ, nếu là dòng tu giáo luật Giáo hoàng, có năng quyền giải tội đối với thuộc cấp của mình và những người ở trong nhà (đ. 968§2).
Những người vừa nói có năng quyền giải tội bất cứ nơi nào, trừ khi trường hợp riêng biệt, Bản quyền địa phương nào đó từ chối không cho hành sử năng cách trong lãnh thổ của bản quyền ấy (đ. 967§2).
Năng quyền giải tội do người có thẩm quyền ban
- Bản quyền địa phương có thẩm quyền ban cho bất cứ linh mục nào năng quyền giải tội. Những linh mục được bản quyền tại nơi nhập tịch hoặc nơi có cư sở ban cấp năng quyền giải tội thì có thể hành sử chúng bất cứ nơi nào, trừ khi bản quyền nơi đó từ chối không cho hành sử trong lãnh thổ của họ (đ. 969§1; 967§2).
- Bề trên dòng tu hay tu đoàn Tông đồ thuộc luật Giáo hoàng: có thẩm quyền ban năng quyền này cho các linh mục thuộc quyền mình để họ có thể giải tội tất cả các phần tử của dòng tu và hội dòng.
c. Tiêu chuẩn và cách thức ban năng quyền giải tội
Điều 970 cho biết để có thể có năng quyền giải tội, linh mục cần có những phẩm chất cần thiết về đạo lý và mục vụ. Việc khảo hạch để biết phẩm chất nầy chỉ cần thực hiện lần đầu tiên là đủ.
Việc ban năng quyền giải tội thường xuyên có thể cho một thời gian hữu hạn hay vô hạn và phải được ban bằng giấy tờ vì đây là một hành vi hành chính liên quan đến tòa ngoài[6].
d. Giới hạn và mất năng quyền giải tội
Theo giáo luật, năng quyền giải tội có thể bị mất, vì nhiều lý do khác nhau (đ. 975).
- Mãn chức vụ: nếu năng quyền có được do chức vụ.
- Mãn thời hạn: nếu năng quyền được ban có thời hạn
- Xuất tịch, đổi cư sở: nếu năng quyền do Bản quyền địa phương tại nơi nhập tịch hay nơi có cư sở cấp
- Bị thu hồi: Bản quyền sở tại hoặc bề trên dòng đã ban cấp năng cách có thể thu hồi khi có lý do trầm trọng.
- Linh mục bị vạ tuyệt thông, cấm chỉ hay huyền chức thì cũng mất năng quyền giải tội trừ trường hợp gặp hối nhân đang tình trạng nguy tử.
e. Bù năng quyền giải tội
- Theo điều 976: «Cho dù không có năng quyền giải tội, bất cứ tư tế nào cũng giải hết mọi vạ và mọi tội cách thành sự và hợp thức cho mọi hối nhân lâm cơn nguy tử, mặc dầu có sự hiện diện của một tư tế được chuẩn nhận». Ở đây luật nói nguy tử chứ không phải là lâm tử (periculum mortis khác với articulum mortis).
f. Sự hạn chế năng quyền giải tội
- Nói tổng quát, một linh mục không thể hành sử năng quyền giải tội khi bị án tuyệt thông[7], cấm chế[8], huyền chức[9], trừ trong trường hợp nguy tử.
- Theo điều 977, linh mục giải tội cho người đồng loã với mình về tội phạm điều răn thứ sáu thì không thành sự và bị vạ tuyệt thông tức khắc theo điều 1378§1.
- Nếu hối nhân mắc vạ, thì linh mục phải yêu cầu họ xin người có thẩm quyền giải vạ trước khi phép giải tội cho họ.
- Theo điều 982, nếu ai đã cáo gian một cha giải tội về tội quyến rũ phạm điều răn thứ sáu, thì chỉ được xá giải sau khi đã minh thị rút lại lời vu cáo và bồi thường thiệt hại nếu có.
2. Những bổn phận của linh mục giải tội
a. Thẩm phán công minh và lương y
b. Cần hỏi hối nhân cách khôn ngoan và kín đáo
c. Cân nhắc việc trao ban hay từ chối ban ơn xá giải
- Hoãn lại việc ban xá giải, nếu hồ nghi về sự thực tình thống hối của hối nhân.
- Từ chối việc xá giải, nếu hối nhân không tỏ dấu ăn năn, hoặc không dốc quyết chừa cải, thay đổi cuộc sống cũ.
- Ban bí tích xá giải cho hối nhân chuẩn bị thích đáng và xin lãnh bí tích.
d. Ra việc đền tội cân xứng hợp
Việc đền tội do thừa tác viên chỉ định có hai mục đích: phạt tội nhân và sửa dạy cho tương lai.
Cha giải tội nào cố tình xao lãng trong việc cho đền tội, không phân biệt tội nặng nhẹ, mà cho nhất loạt như nhau chẳng hạn, thì khách quan mà xét, đã phạm tội trọng[10].
e. Tuyệt đối giữ ấn tín bí tích giải tội
- Không được tiết lộ: Về bí mật tòa giải tội hay còn gọi là ấn tín bí tích giải tội.
- Không được sử dụng những hiểu biết từ tòa giải tội.
Còn hối nhân có thể tiết lộ công khai điều mình xưng thú trong toà giải tội. Đó là quyền tự do của họ
Những hình phạt đối với ai vi phạm ấn tín tòa giải tội:
- Cha giải tội vi phạm trực tiếp, thì bị vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh (đ. 1388§1).
- Nếu cha giải tội vi phạm gián tiếp thì Bề trên phải ra hình phạt (đ. 1388§1). Những người khác lỗi thì cũng bị bản quyền phạt (đ. 983§2; 1388§2), tùy tính cách nặng nhẹ.
- «Vẫn giữ qui định điều 1388, bất cứ ai thu âm bằng bất cứ phương tiện kỹ thuật nào những lời xưng thú trong bí tích giải tội của linh mục giải tội hay của hối nhân, dù toàn bộ hay một phần, tự mình làm hay nhờ người khác, hoặc phát tán những nội dung đó bằng những phương tiện truyền thông xã hội đều phải chịu hình phạt vạ tuyệt thông tiền kết (excommunicationem latae sententiae)»[11].
f. Bổn phận giải tội
Theo điều 986, có ba hoàn cảnh khác nhau của linh mục phải giải tội.
- Trường hợp thông thường: ai có trách nhiệm coi sóc linh hồn phải lo liệu để giáo dân của mình có dịp thuận tiện xưng tội.
- Trường hợp khẩn cấp: bất cứ cha giải tội nào, dù không có trách nhiệm coi sóc tín hữu, cũng buộc phải giải tội.
- Trường hợp nguy tử: khi một hối nhân lâm vào tình trạng nguy tử, thì giáo luật ban phép cho tất cả các linh mục được quyền giải tội và giải vạ thành sự.
IV. HỐI NHÂN
1. Những yêu cầu cần thiết đối với hối nhân
- Việc xét mình kỹ lưỡng,
- Ăn năn tội là điều kiện để chịu bí tích sám hối thành sự.
- Dốc lòng chừa là muốn về sau không phạm tội nữa.
- Việc thú tội là thú nhận với cha giải tội những lỗi lầm đã phạm cốt để được xá giải.
- Việc đền tội.
2. Buộc xưng tội
Giáo luật điều 988 và 916 cho thấy luật buộc xưng tội trọng trước khi đi rước lễ và dâng thánh lễ.
Lưu ý đối với linh mục, nếu không thể xưng tội vì thiếu cha giải tội, thì theo nguyên tắc không được dâng lễ.
Giáo luật điều 988§2 «khuyên các Kitô hữu cũng xưng cả những tội nhẹ nữa».
3. Xưng tội hàng năm và thường xuyên
Giáo luật điều 989 : xưng tội hằng năm buộc tất cả những người biết mình mắc tội trọng mà chưa xưng tội.
Giáo luật đặc biệt khuyên các chủng sinh (đ. 246 §2), giáo sĩ (đ. 276 §2), tu sĩ (664 và 719 §3) hãy năng lãnh nhận bí tích này. Các bề trên chủng viện (đ. 240 §1) và tu viện (đ. 630 §§2-3) hãy lo liệu cho các cha giải tội thường xuyên.
Về trẻ em xưng tội rước lễ lần đầu cần phải điều chỉnh những lệch lạc, để giúp các em sống với Chúa Giêsu.
4. Xưng tội qua thông ngôn –điện thoại, internet
Theo Giáo luật điều 990 được phép xưng tội qua thông ngôn.
Uỷ Ban Giáo Hoàng về Truyền thông Xã Hội ra văn kiện “Giáo Hội và Internet” đề cập đến khía cạnh bí tích của các phương tiện truyền thông. Ngày 9.2.2011, Giám đốc phòng báo chí Tòa Thánh, Cha Lombardi nhắc lại rằng không thể xưng tội qua điện thoại di động iphone[12].
Kết luận: việc xưng tội qua điện thoại, trên iphone hay ipad hay internet không thành bí tích
5. Quyền tự do chọn cha giải tội
Điều 991 «Mọi Kitô hữu có trọn quyền xưng tội với cha giải tội nào đã được chuẩn nhận cách hợp thức mà mình thích, mặc dầu vị ấy thuộc một lễ điển khác».
Do đó, các cha sở không được cấm các giáo dân của mình đi xưng tội nơi khác nhưng cũng không nên bỏ bê hay lơ là nghĩa vụ ngồi tòa giải tội đến mức các giáo dân phải đi tìm các cha giải tội tại các giáo xứ khác.
Giải tội cho giáo dân trong giáo xứ của mình phần nào giúp cha sở biết rõ thêm đời sống đạo đức thiêng liêng của họ nhờ đó có thể đề ra những chương trình hay hướng dẫn kịp thời và thích 
KẾT LUẬN

1. Những qui định Giáo luật về bí tích thống hối biểu lộ đức ái mục tử
Những qui định Giáo luật về bí tích thống hối là một trong những cách “biểu lộ đức ái mục tử”[13].
2. Hoàn cảnh thực tế ngày nay
Khó khăn: ngày càng ít người đến tòa giải tội thường xuyên. Những lý do như:- Mất cảm thức về tội, - Thiếu thiện cảm với bí tích này, - Không thấy ích lợi của việc xưng tội, - E ngại đến với linh mục vì sợ bị trách mắng hay vì lý do khác (ham làm ăn, xấu hổ …) - Cha giải tội không sẵn sàng ngồi tòa vì có quá nhiều việc khác phải giải quyết.
Tích cực: xu hướng số người đến với bí tích hòa giải tăng lên bởi nhu cầu tiếp xúc cá nhân trong môi trường xã hội kỹ thuật hôm nay[14].
3. Một số đề nghị
- Linh mục giải tội cần hiểu và giữ qui định của giáo luật và của giáo phận về việc giải tội
- Cần cập nhật lập trường của Giáo Hội về một số vấn đề luân lý hay thần học[15].
- Lưu ý việc đào tạo các linh mục «để người giải tội không thể làm khán giả thụ động, mà phải làm “persona dramatis” – tức là một khí cụ tích cực của lòng Chúa thương xót[16]. 
4. Nhìn lại bổn phận giải tội - tìm nhiệt tình mới của người mục tử
- Đó là một bổn phận cực nhọc và khó khăn.
- Đòi hỏi rất nhiều nơi người linh mục từ cách hành xử đến các đức tính và tri thức[17].
- Giữ tuyệt đối ấn tín tòa giải tội đôi khi gây ra sự hiểu lầm, làm tổn hại thanh danh
- Tuy nhiên đó là nhiệm vụ cao cả vì linh mục là người diễn dịch lòng yêu thương nhân từ của Thiên Chúa[18].
- Khi giải tội là linh mục thấy mình cũng được cộng hưởng trên đường nên thánh.
- Nhiều gương tốt những cũng có nhiều nỗi lo lắng về bổn phận ngồi tòa giải tội của các cha trong giáo phận[19].
- Linh mục cũng cần đến lòng tha thứ của Chúa. 


[1] Xem sách Giáo Lý HỘI Thánh Công Giáo [=GLHTCG], số 1423, 1424, 1442. Bản dịch của HĐGMVN, Nhà xuất bản Tôn Giáo, Hà Nội 2009
[2] Xem Rm 5,19-20.
[3] Công đỒng Vantican II, Hiến chế tín lý về Giáo Hội, Lumen Gentium, số 11.
[4] Xem bỘ giáo lý đỨc tin đã có câu trả lời về vấn đề nầy tại http://www.vatican.va/roman_curia/congregations/cfaith/documents/rc_con_cfaith_doc_19780120_assoluzione-generale_it.html. Có thể tham khảo thêm GIOAN PHAOLÔ II, tông huấn Hòa giải và Thống hối (Reconciliatio et Paenitentia) 1983, số 33.
[5] Xem Giáo luật điều 18.
[6] Xem Giáo luật điều 37.
[7] Xem vạ tuyệt thông (excommunicatio) tại đ. 1331.
[8] Xem vạ cấm chế (interdictum) tại đ. 1332.
[9] Xem vạ huyền chức, nôm na gọi là treo chén, (suspentio) tại đ. 1333.
[10] Xem NGUYỄN SOẠN, Các bí tích, phương diện luân lý và giáo luật, (lưu hành nội bộ), tr. 97.
[11] bỘ Giáo Lý đỨc Tin, Nghị định của Bộ giáo lý đức tin về vạ tuyện thông đối với ai phổ biến lời xưng tội, 23.9.1988, trong AAS 80 (1988) 1367.
[13] BỘ GIÁO SĨ, Linh mục, thừa tác viên của lòng Chúa thương xót, tài liệu hỗ trợ các cha giải tội và linh hướng, 9.3.2011, số 44. Bản dịch của cha Phêrô Đặng Xuân Thành từ nguyên bản anh ngữ The priest, minister of divine mercy. Città del Vaticano 2011.
[14] Xem Gioan Phaolô II, Thư gởi các linh mục nhân ngày Thứ Năm Tuần Thánh 2002, 17.3.2002, số 3.
[15] Chẳng hạn như tài liệu của HỘI ĐỒNG TÒA THÁNH VỀ GIA ĐÌNH, Vademecum per i confessori su alcuni terni morale attenenti alla vita coniugale, 1997 (Cẩm nang cho các cha giải tội về vài vấn đề luân lý đáng chú ý trong đời sống vợ chồng); hay về việc phá thai, an tử, …
[16] BÊNÊĐICTÔ XVI, Discorso di Benedetto XVI ai penitenzieri delle quattro basiliche pontificie romanae, Diễn từ với các cha giải tội phục vụ tại 4 vương cung thánh đường Giáo hoàng ở Rôma 19.2.2007.
[17] GLHTCG số 1446.
[18] Xem Gioan Phaolô II, Thư gởi các linh mục nhân ngày Thứ Năm Tuần Thánh 2002, 17.3.2002, số 3.
[19] nguyỄn soẠn, “Huấn dụ của Đức Giám Mục giáo phận với hàng linh mục Qui Nhơn nhân dịp tĩnh tâm năm 2012”, số 3. Trong Bản Thông Tin Giáo phận Qui Nhơn, số 167- tháng 3 năm 2012, tr. 192.

Thứ Tư, 26 tháng 9, 2012

NGÂN KHÁNH CHA RAPHAEL VÕ ĐỨC THIỆN


 

Vietcatholic
Trần Văn Minh

Melbourne, vào lúc 4 giờ chiều Ngày 23 Tháng 9 năm 2012. Tại lễ đài Trung tâm Công giáo Việt Nam Thánh Vinh Sơn Liêm, một thánh lễ đồng tế mừng ngân khánh kỷ niệm 25 năm linh mục của Linh mục Quản nhiệm Raphael Võ Đức Thiện đã được tổ chức rất trọng thể.
Vào một ngày đẹp trời, mùa Xuân Úc châu lại về. Khí hậu ấm áp hơn, cây cối đâm chồi nẩy lộc, hoa lá xum xuê tươi thắm, cộng với sắc mầu của cờ lớn nhỏ, băng rôn treo khắp đó đây trong khuôn viên trung tâm, như hòa cùng niềm vui của toàn thể cộng đoàn. Cộng đoàn về dự Thánh lễ rất đông, từ quý cụ ông, cụ bà, quý chức, khách mời và thân nhân của linh mục quản nhiệm đã hân hoan tề tựu đông đủ để cùng hiệp dâng thánh lễ tạ ơn trong một dịp đặc biệt này.
Trong số linh mục, tu sĩ hiện diện đông đảo, chúng tôi thấy có Đức cha Vincent Nguyễn Văn Long Giám mục Phụ tá TGP Melbourne. Hai linh mục cùng lớp với linh mục quản nhiểm là Đức Ông Tony Ireland và Đức Ông Stuart Hall. Linh mục Nguyễn Đình Sáng từ New York là anh linh tông cùng các linh mục gốc Giáo phận Qui Nhơn, Các Linh mục có gốc trong Cộng đoàn Công giáo Việt Nam Thánh VSL và một số LM khách trong TGP và từ Việt Nam qua du học cũng đến dự, quý tu sĩ nam nữ. Ca đoàn tổng hợp của cộng đoàn đã dâng lên Thiên Chúa những bài ca thật đặc sắc và đầy ý nghĩa trong Thánh lễ tạ ơn này.
Ngoài ra, về phía thân nhân trong gia đình của linh mục quản nhiệm, cũng có anh em từ tiểu bang California bên Mỹ cũng qua, cùng với thân nhân đang sống tại Úc đến dự thánh lễ tạ ơn và mừng cùng người anh em trong gia đình đã vâng theo lời gọi của Thiên Chúa trong thiên chức linh mục.
Trong bài chia sẻ về bản thân khi nghe theo lời gọi của Chúa, “để hôm nay được cử hành cùng với giáo xứ và cộng đoàn để biểu lộ những tâm tình, đặc biệt là tâm tình tạ ơn đối với Thiên Chúa là Đấng đã dìu dắt tôi đi qua những bước thăng trầm để tiến đến thiên chức linh mục và đã nâng đỡ tôi trong 25 năm qua sống trân trọng, yêu mến và trung thành với thiên chức linh mục.”
Dịp này, cũng là một mốc thời gian để linh mục quản nhiệm nói lên tâm tình biết ơn gia đình, nhất là các bậc sinh thành, anh chị em, đã cùng Thiên Chúa giúp cho tiếng gọi trong linh mục tiến triển tốt hơn.
Ngài cũng không quên đến các Giáo xứ và Cộng đoàn khi Ngài được phục vụ. Ở các nơi đó Ngài đã lãnh nhận nhiều sự nâng đỡ và khích lệ, nhờ vào lời cầu nguyện và những chia sẻ vật chất, tinh thần, giúp cho Thiên chức linh mục mỗi ngày một phong phú.
Trong niềm xúc động, Linh mục Raphael đã nhắc đến người bác ruột là thầy Gabriel Vũ Xuân Khánh. Đức cha Giám mục Qui Nhơn Phaolo Huỳnh Đông Các và người cha thiêng liêng là Linh mục Nguyễn Du. Đó là các vị là những tấm gương sáng soi dẫn đưa vào đời sống ơn gọi, mà Linh mục Raphael đã được nối tiếp hôm nay.
Kể lại tiểu sử, một hành trình bước đi theo ơn gọi, những bước đi gập ghềnh trên con đường tu trì, từ những năm 1967 khi bước chân vào Tiểu Chủng Viện Qui Nhơn, qua bảy năm học tập, thấy các bạn đồng lớp mỗi ngày một ít đi, từ 60 khi vào lớp 7 đến ngày học xong ở Tiểu Chủng Viện chỉ còn lại có 11 chủng sinh mãn khóa. Sau đó lại chia ra, một số người được gửi đến Đại chủng viện Xuân Bích Đà Nẵng học. Riêng linh mục và người bạn tên Khoa được vinh hạnh gửi đến Giáo Hoàng học viện Đà Lạt, nơi là niềm mơ ước của nhiều thanh niên đạo đời, vì ở đó có nhiều ngôi trường nổi tiếng như Sĩ quan Võ bị, Chiến tranh Chính trị và Đại học Công giáo Đà Lạt.
Rồi theo vận nước, biến cố 1975 đến. Như mọi người dân miền Nam. Mọi giá trị, hướng đi, ước mơ và tương lai của hằng triệu những người trẻ sụp đổ. Bị ép buộc rời khỏi Giáo Hoàng học viện về nhà, đã đánh dấu khởi đầu những chuỗi ngày bơ vơ, lạc lõng, trống vắng và mịt mù. Đổi lại, linh mục đã có những ngày dài nhất trong đời sống tu trì sống cùng cha mẹ, anh chị em trong gia đình, để cảm nghiệm được ơn nghĩa sinh thành và sự đùm bọc từ anh chị em. Biết thế nào là vật lộn với cuộc sống, ý nghĩa của chịu đựng và kiên nhẫn, nhất là học biết lắng nghe tiếng Chúa trong thinh lặng và đắng cay của cuộc đời.
Trên con đường vượt biển, (với ba ngày, ba đêm là một hành trình giúp tôi (LM) biết thế nào là phó thác. Đây là một cảm nghiệm đã giúp tôi viết nên “Tổng luận Thần học” khi hoàn tất chương trình học tại Đại Chủng viện Clayton, với tựa đề: “Hành trình Vượt biên là hành Trình Tín Thác Tìm Tự Do”.)
Hành trình đi theo ơn gọi mà linh mục quản nhiệm đã đi mất 20 năm mới tới, và vào ngày 10. 09. 1987 cha quản nhiệm đã được lãnh nhận thiên chức linh mục. Trong buổi lễ hôm nay, linh mục quản nhiệm đã xúc động và nhắc lại hành trình đó bao gồm nhiều khía cạnh xây dựng, phá đổ, gầy dựng và đổi mới, hành trình đó đã để lại nhiều kỷ niệm với những hình ảnh sống động.
25 năm qua, các Giáo xứ và Cộng đoàn đã chia sẻ nỗi buồn, niềm vui, cảm thông phiền muộn, khó khăn các cá nhân và gia đình, nhưng trên hết là niềm cậy trông, tín thác vào Chúa trong từng biến cố cuộc đời.
Trước khi kết thúc thánh lễ. Đức cha Vincent Nguyễn Văn Long, đã thay mặt Đức Tổng giám mục TGP Melbourne gửi lời chúc mừng lễ ngân khánh của linh mục quản nhiệm, và chúc ngài luôn vững bước trên cương vị linh mục của Chúa.
Đại diện Cộng đoàn, Ông Mai Thanh Hải trưởng ban mục vụ cũng lên chúc mừng và cảm ơn những thời gian 20 năm qua, nhờ cha đã hướng dẫn và với những công sức của cha quản nhiệm đã lo xây dựng trung tâm được mọi sự tốt đẹp như ngày hôm nay. Ông cũng không quên gửi lời cảm ơn đến ông bà cố và gia đình của cha quản nhiệm đã dâng hiến người con tốt lành đi theo ơn gọi của Chúa.
Cuối cùng, một buổi tiệc mừng cho toàn thể khách mời và cộng đoàn trong niềm vui hân hoan mừng ngân khánh 25 năm Thiên chúc linh mục của Linh mục Quản nhiệm Raphel Võ Đức Thiện. Và một buổi văn nghệ với nhiều tiết mục thật đặc sắc với chủ đề “Ơn gọi” gồm, ca múa, nhạc do Ca đoàn Cecilia và các ca đoàn trong cộng đoàn trình diễn. Buổi văn nghệ đã kết thúc buổi lễ mừng ngân khánh của linh mục quản nhiệm Cộng đoàn Công giáo Việt Nam Thánh Vinh Sơn Liêm.
Được biết, trong 25 năm linh mục, Linh mục Raphael đã có thời gian coi sóc Cộng đoàn Công giáo Việt nam Thánh Vinh Sơn Liêm. Một Cộng đoàn Công giáo Việt Nam lớn nhất trong Tổng giáo phận Melbourne. Kiêm Chánh xứ Saint Michael.

Melbourne 23/9/2012.

Thứ Ba, 25 tháng 9, 2012

LỜI MỜI GỌI ĐẾN SỰ MẬT THIẾT MỚI VỚI ĐỨC KITÔ

Phêrô, Ngài trở thành mục tử như thế nào?


 
Lm. Antôn Bùi Kim Phong
 
Metanoia trong từ ngữ của thần học Tân Ước - trong Cựu Ước với động từ shuv: trở về, quay về, hay nacham: thống hối - diễn tả một hành trình hồi tâm, thống hối và hoán cải tận căn. Trong ý nghĩa thời gian, đó là sự dứt khoát với quá khứ, thay đổi trong hiện tại để hướng về một tương lai khác biệt. Nói về tiến trình, đó là một tiến trình vượt qua chính mình, vượt qua lối sống, lối hiểu, cách nghĩ của con người hiện tại về chính mình, về người khác, về thế giới và về chính Thiên Chúa, để có được một phân định mới, xác quyết mới và từ đó có được một dấn thân mới. Tất cả tiến trình nội tâm này đưa con người tới một mục tiêu là sống trọn vẹn hơn và mật thiết hơn trong tình yêu với chính Đức Kitô, và qua đó đổi mới cách nhìn, cách hiểu, cách cư xử với chính mình và với thế giới chung quanh, tương hợp với cái nhìn của Đức Kitô. Đối với những người được gọi vào thánh chức linh mục, người mục tử của đoàn dân được Chúa trao phó, tiến trình hoán cải (metanoia) đưa đến một dấn thân mới, một sự mật thiết mới trong mối tương quan với vị Mục Tử tốt lành trên hết các vị mục tử là Đức Kitô, là mục tiêu của đời sống mục vụ và thiêng liêng của linh mục. Bài suy niệm này muốn phác họa tiến trình hoán cải ‘thứ hai’[1] của thánh Phêrô - dựa trên những chiêm niệm lectio divina - để gửi đến các cha trong khoá thường huấn 2012  như là chứng từ của tiến trình hoán cải của người mục tử[2].
Hai lời giáo đầu
- Đầu tiên, trước khi đi vào phần suy niệm, chúng ta dừng lại một chút ở hai từ “hoán cải và “ơn gọi’, không phải để định nghĩa, nhưng để làm rõ nghĩa hơn.
Chúng ta gọi là ơn gọi những lôi cuốn, hấp dẫn mà Chúa Thánh Thần tác động, dù trong những trạng huống khác nhau, khi sáng sủa rỏ ràng, lúc mù mờ tăm tối, để chúng ta hiểu được sứ vụ mà Thiên Chúa muốn chúng ta thực hiện trên trần gian này.   Sứ vụ đó luôn là một cách bắt chước Chúa Giêsu, một cách thể hiện sự hiện hữu của Chúa Giêsu trong một khoảnh khắc hay hoàn cảnh nào đó trong lịch sử. Nhưng ơn gọi cũng bao gồm sự lớn lên, sự phát triển thiêng liêng, cho đến khi đạt đến sự trưởng thành Kitô giáo, đạt đến khả năng sống, suy nghĩ, và hành động như Chúa Giêsu, trong một hoàn cảnh cụ thể. Vì thế, ơn gọi luôn mang ý nghĩa kiến tạo và tinh luyện. Ơn gọi luôn kêu mời chúng ta từ bỏ những gì bất ổn và không chân thực, để tiến bước trong hành trình của trật tự và sự thật. Vì thế ơn gọi có một liên hệ mật thiết với hoán cải.
Chúng ta hiểu chữ hoán cải (metanoia), theo nghĩa rộng, là những thay đổi tâm hồn có ý nghĩa và hiệu lực. Sự hoán cải có thể được hiểu theo hai ý nghĩa: hoán cải thiêng liêng và hoán cải đời sống luân lý.
Hoán cải thiêng liêng hệ tại ở việc đặt Thiên Chúa và tình yêu của ngài vào vị trí cao nhất. Việc hoán cải này có thể bắt đầu từ một quan đìểm hay trạng thái thiêng liêng trước đây, là một tình trạng không hoàn toàn thành tâm hay chân thực, không đặt Thiên Chúa và tình yêu của ngài vào vị trí cao nhất, nhưng thay vào đó có thể là truyền thống, thói quen, cách phục vụ, vv… Cho nên cũng cần có việc hoán cải trong phạm vi đời sống thiêng liêng dự định sống theo Tin Mừng; dự định không chưa đủ, cần hoán cải tâm hồn theo gương Chúa Giêsu.
Việc hoán cải luân lý luôn đi liền với việc hoán cải thiêng liêng, nó hệ tại ở việc luôn đặt sự thật và sự thiện vào vị trí cao nhất, và đặt những lợi ích riêng tư, những đìều hữu ích, và những bù trừ, vào hàng thứ yếu. Việc hoán cải thiêng liêng, việc đặt Thiên Chúa vào vị trí cao nhất, luôn giả định sự hoán cải luân lý và mọi hoán cải luân lý đều kêu mời chúng ta thanh luyện tâm hồn hướng về sự hoán cải thiêng liêng chân chính. Vì vậy, luôn có liên hệ hỗ tương giữa hai thực tại này.
Qua đó, chúng ta cũng thấy việc hoán cải và ơn gọi cũng hỗ tương với nhau chặc chẻ: qua ơn gọi chúng ta biết phương thế cụ thể của mỗi người để bắt chước Đức Kitô trong hoàn cảnh lịch sử hiện tại, và qua việc hoán cải biến đổi tâm hồn để có thể tự do bắt chước Đức Kitô và tuân theo những linh hứng của ngài.
 Chúng ta thường xuyên dùng những từ ngữ này để phác họa hành trình ơn gọi và hoán cải của thánh Phêrô, một hành trình ơn gọi đưa đến việc hoán cải nội tâm đích thực: đưa đến việc bước ra khỏi, vượt khỏi những lợi ích riêng tư, những cách thế riêng tư để nhìn sự vật, để có thể tuân theo và tương hợp với những lợi ích của Thiên Chúa; và dẫn đến việc nhận thức đúng đắn hơn về ý muốn của ngài.
- Tiếp đến là lời giáo đầu thứ hai. Trong khi dõi theo hành trình của Phêrô, bài suy niệm này dừng lại ở điều chúng ta có thể gọi là ‘ơn gọi lần thứ hai’. Hay có thể gọi là ‘sự hoán cải lần thứ hai’. Những lời dạy của thánh tông đồ thật hữu ích cho chúng ta, vì có lẽ đối với ngài những giai đoạn này là đau khổ và thương tổn hơn, và vì thế nó trở nên dấu hiệu, biểu tượng, kiểu mẫu, để chúng ta nhớ lại khi những hoàn cảnh tương tự xảy đến cho chúng ta.
Mỗi người muốn trở thành môn đệ đích thực và kiên trì trên con đường đi theo Chúa, mỗi ơn gọi, một cách nào đó đều cảm nghiệm trong đời sống mình những bước ngoặc, là bước khai mở những chân trời mới và thường là qua những giai đoạn khủng hoảng - nói theo khoa tâm lý học, có thể được ví như giai đoạn được gọi là khủng hoảng của tuổi bốn mươi -. Và rồi sự biến đổi đến trong ta, nó có thể được gọi dưới nhiều tên: sư hoán cải lần thứ hai, ơn gọi lần thứ hai, hay những tên khác. Chắc chắn có một giai đoạn như thế -dù dưới tên gọi nào - và chúng ta cùng suy niệm giai đoạn này của thánh Phêrô.
Câu hỏi của chúng ta là ơn gọi hay việc hoán cải lần thứ hai của thánh Phêrô xảy ra cho ngài thế nào? Ngài sẽ trả lời cho chúng ta qua hai bước tiếp nhau: qua hai lần cảnh báo, hai lần  xây dựng  và một kết luận. Chúng ta trải nghiệm những khoảnh khắc này qua việc đọc (lectio) và suy niệm (meditatio) để tự hỏi xem ơn gọi lần thứ hai là gì, có xãy ra tương tự như thế cho chúng ta không, và chúng ta rút ra từ đó những kết quả nào?

Một đức tin mỏng giòn

Chúng ta bắt đầu với hai lần cảnh báo làm cho Phêrô thức tỉnh.
- Lần cảnh báo thứ nhất xảy ra khi Phêrô đã quyết định theo Thầy, và đã sống đời môn đệ. Chúng ta đọc trình thuật này ở Tin Mừng Mát-thêu chương 14. Sau phép lạ hoá bánh ra nhiều, Chúa đi lên núi một mình để cầu nguyện, trong khi các môn đệ lên thuyền để sang bờ bên kia trước. “Còn chiếc thuyền đã ra biển được vài dặm, bị sóng đánh ngược gió. Vào khoảng canh tư, Ngài đi trên mặt biển mà đến với họ. Thấy Ngài đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: “Ma đấy”, và sợ hãi la lên. Đức Giê-su liền bảo các ông: "Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!" Ông Phê-rô liền thưa với Người: "Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài." Đức Giê-su bảo ông: "Cứ đến! " Ông Phê-rô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước, và đến với Đức Giê-su. Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên: "Thưa Ngài, xin cứu con với! "Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy ông và nói: "Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi? "Khi thầy trò đã lên thuyền, thì gió lặng ngay (cc. 24-32).
“Người đâu mà kém tin”, những từ ngữ quá nặng, vì Phêrô sẽ là nền tảng đức tin cho Giáo hội, cho chính niềm tin của chúng ta.
Ông bị trách móc vì  kém tin, để nhắc nhớ ông về thực tại là ông không tin, rụt rè, hoài nghi, kinh hãi và khiếp sợ. Cũng như tất cả chúng ta, Phêrô phải học biết là đức tin là một ân huệ của Thiên Chúa, không phải một sở đắc của chúng ta.
- Lần cảnh báo thứ hai được trình thuật trong Tin Mừng Luca, chương 22,  và cũng được thuật lại trong các Tin Mừng nhất lãm và cả Tin Mừng Gioan (13, 38-38). Ở đây chúng ta đọc trình thuật của Luca.
            Trước hết Phêrô, cũng như thường lệ, được ca tụng, và lần này cùng với các tông đồ khác: "Còn anh em, anh em vẫn một lòng gắn bó với Thầy, giữa những lúc Thầy gặp thử thách gian nan” (c. 28); vì họ là những người trung thành và chung thủy. Nhưng quay sang Simon Phêrô, Ngài thêm: “Si-môn, Si-môn ơi, kìa Xa-tan đã tìm để  sàng anh em như người ta sàng gạo. Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin. Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh" (cc 31-32).
Phêrô như muốn nói: con hài lòng vì những lời Thầy nói, và những lời đó làm cho con yên lòng, nhưng, cũng như mọi khi, con muốn  thêm: "Lạy Chúa, dầu có phải vào tù hay phải chết với Chúa đi nữa, con cũng sẵn sàng". Một sự chung thủy tuyệt đối và trọn vẹn. Phêrô hết sức thành tâm khi nói thế. Nhưng Chúa Giêsu trả lời: “Này anh Phê-rô, Thầy bảo cho anh biết, hôm nay gà chưa kịp gáy, thì đã ba lần anh chối là không biết Thầy"( c. 34).
Vị tông đồ phải chấp nhận lời cảnh báo mạnh mẽ này, lời này làm cho ông hiểu sự chân thực của ước muốn đi theo Chúa Giêsu của ông, dù đã biểu lộ, nhưng vẫn còn rất mềm yếu, mỏng giòn, chưa thực thâm sâu.
Chúng ta sẽ xét đến việc Phêrô chối ba lần sau khi suy tư về trình thuật chúng ta gọi là lần xây dựng đầu tiên trong tiến trình hoán cải lần hai của thánh Phêrô.

“Các con bảo Thầy là ai?”

Ở đây chúng ta nói về một lần quở trách trở thành bước ngoặc quyết định trong cuộc đời của Phêrô. Câu chuyện xảy ra trong cuộc hành trình về Cêsarê Philíphê, khi thầy trò bỏ Galilêa, hướng về phía bắc, đến tận chân núi Hermon. Đây là một nơi đầy nước, đầy suối, đầy những ao hồ nhỏ, đầy những hang động, nhưng cũng đầy những truyền thống bí nhiệm của dân ngoại. Thầy Giêsu chỉ đi với các môn đệ, và muốn lay chuyển, khích động và làm cho họ tạo cho mình một bước nhảy vọt trong hành trình nội tâm.
Dĩ nhiên, cũng như những lần khác, chính Phêrô là người được thử nghiệm, là người Chúa chọn để kích thích những người khác. Tất cả bắt đầu với một câu hỏi của Chúa Giêsu: “Người ta bảo thầy là ai?”. Câu hỏi này không phải mới, nó đã được hỏi nhiều lần rồi. Các môn đệ đã nghe từ những phép lạ đầu tiên, từ những lần chữa lành đầu tiên. Tin mừng theo thánh Mát-cô đã ghi chú, sau trình thuật về việc làm cho sóng gió im lặng, các môn đệ sợ hãi, kinh khiếp, và bảo nhau rằng: "Vậy người này là ai, mà cả đến gió và biển cũng tuân lệnh?" (4,41).
Dân chúng luôn thắc mắc và đặt câu hỏi, nhưng đến giờ các môn đệ vẫn chưa thoả thuận với nhau về câu trả lời. Có người nói Thầy là một ngôn sứ, một ngôn sứ vĩ đại; như một người được Thiên Chúa sai đến, hay có thể là Đấng được sai đến sau cùng, Đấng Thiên Sai.
 Cho dù có những chuẩn bị này rồi, nhưng đến khi chính Chúa Giêsu đặt câu hỏi này, các môn đệ giật mình ngạc nhiên, hay mắc cở không dám phát biểu, sợ rằng câu trả lời của mình không được Thầy đồng ý. Các môn đệ vẫn còn sợ hãi khi đối diện với sự thật.  Tất cả các ông đều sợ sệt và do dự. 
Phêrô thì sao? Ông được linh hứng nội tâm thúc bách nói lên thay cho anh em, nói lên những lời mà các thánh sử ghi lại mỗi người một cách hơi khác nhau. Thánh Mát-thêu diễn tả phong phú hơn, có thể hơi vượt quá một chút những gì Phêrô đã nói lúc đó (Mc 8,27-30). Phêrô chắc rằng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, nên đã mạnh mẽ phát biểu. Có lẽ trong suy nghĩ Phêrô cảm thấy Thầy mình có cái gì đó hơn cả Đấng Thiên Sai, là người có mối tương quan mầu nhiệm và rất mật thiết với Thiên Chúa, nên Phêrô cũng muốn nói lên điều đó, cho dù ông có thể không hiểu thấu đáo những lời mình muốn nói. Sau khi nói xong, chắc Phêrô lặng đi và run rẩy, vì không biết mình nói có đúng không, vì những lời đó rất nghiêm trọng đối với người giữ đạo và luật Do Thái thuần thành.
            Có lẽ lúc đó Chúa Giêsu đã nhìn thâm trầm vào mắt Phêrô, như lần đầu gặp nhau, im lặng hồi lâu rồi mới nói lên tiếng: “Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16, 17).
Phêrô thật hả hê, phấn khởi và mãn nguyện đến tột đỉnh, như thể ở chín tầng mây. Thầy không những công nhận những lời của ông là đúng, mà còn nhấn mạnh là ông đã được Thiên Chúa mạc khải.  Điều đó vượt quá lòng mong ước của Phêrô. Khi nghe Chúa nói thế, ông tràn ngập hạnh phúc: Thiên Chúa thật đáng cho tôi xưng tụng, Ngài đặt Thần Khí của Ngài trong lòng tôi, Ngài dùng tôi để tỏ bày những bí nhiệm của Ngài.
Đó là điều ngoài sức tưởng tượng của Phêrô. Cả các môn đệ khác cũng nhìn Phêrô đầy kinh ngạc về điều kỳ diệu chưa từng nghe thấy này. Và cũng có thể với một chút ganh tị, họ tự hỏi: Làm thế nào mà Phêrô có thể thẩm thấu những điều bí nhiệm của Chúa đến vậy?

Hoán cải để khiêm nhường

Nhưng câu chuyện không dừng ở đây, mà tiếp tục với những diễn biến không lường trước được, với lời quở mắng của Chúa Giêsu. Lời quở mắng chắc đã làm Phêrô run lên vì khiếp hãi.
            Trong khi Phêrô tin rằng mình đã hiểu biết sâu xa về kế hoạch của Thiên Chúa, ông ta nghe Chúa Giêsu nói về cuộc khổ nạn và cái chết, một ấn tượng về tương lai xem ra thất bại. Lòng vẫn còn đầy cảm xúc huy hoàng vừa qua, Phêrô bạo dạn và không do dự kéo Thầy ra để phản đối và can gián: điều này không được, không thể xảy ra, không chấp nhận được và chúng con không bao giờ cho phép xảy ra.
Nghe thế, Chúa Giêsu đổi sắc mặt, ngài giận dữ và quát mắng: "Sa-tan, lui lại đàng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người" (Mt 16, 23).
Lời trách mắng thật nặng nề, khủng khiếp. Phêrô kinh hãi, vừa được tán dương và phấn khích, giờ đây tất cả sụp đổ. Tất cả hình ảnh mà ông tạo nên cho mình, lâu đài mà ông đã xây dựng qua ơn gọi và sự ưu ái đặc biệt của Thầy mình, đã sụp đổ. Ông được gọi đầu tiên lên núi và điều đó đã làm ông phấn khởi, ông đã cảm nhận Thầy đã xem mình như người tín cẩn, như cánh tay phải, nhưng bây giờ lại bị đối xử thậm tệ, bị ném như giẻ rách, bị coi như Satan quỷ dữ. Chưa bao giờ ông nghĩ có thể bị trách mắng kinh khủng và tàn mạt đến thế. Ông đã tin rằng mình hiểu con đường Chúa muốn cho Thầy Giêsu, nhưng ông lại bị mắng nhiếc như là người chẳng biết chút gì về kế hoạch của Thiên Chúa, và chỉ phán đoán theo suy nghĩ nhân loại.
Chợt hiện lên trong đầu Phêrô lời phát biểu rất mạnh của tiên tri Isaia: “Tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, đường lối của các người không phải là đường lối của Ta” (55, 8). Ông thấy mình đã bị sửa sai, bị xô ngã, và trở lại trạng thái mất tự tin mà ông thường bị. Ông thấy trở lại trong mình những cảm xúc thiếu thốn, không tương xứng, thường xảy ra trong đời. Nhưng quan trọng hơn hết là ông có ấn tượng là giữa ông và Thầy Giêsu dường như đã chấm dứt, Ngài đã bỏ rơi ông, Ngài đã loại ông. Ông cho rằng sau những gì ông đã nói chẵng còn ai nghe ông nữa; thậm chí những môn đệ khác còn trêu ghẹo, còn coi ông thiếu nghiêm chỉnh và không đáng tin.
Ông trải qua những giây phút hoãng loạn, và cả một chút giận dữ. Ông cắn môi và không dám trả lời.
 Nhưng Chúa Giêsu tiếp tục kiên nhẫn và can đảm chỉ dạy các môn đệ, hầu như không quan tâm đến sai trái và tự phụ của Phêrô, Ngài tiếp tục nói về tách biệt, từ bỏ chính mình, về sự cần thiết phải nói không với chính mình, cần phải sống đời sống mình thế nào: “Rồi Đức Giê-su nói với các môn đệ: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (Mt 16, 24-25).
Lúc này Phêrô nhận ra điều gì đằng sau lời quở mắng này. Nó như là một lời mời gọi mới, nó làm cho ông đối diện với một sự thúc bách phải hoán cải; không vỏ đoán về chính mình về sức mạnh của mình nữa; không tự lừa dối mình nữa, vì một vài an ủi hay soi sáng nội tâm, để tự đưa mình đến một nơi vô định, nhưng phải khiêm tốn, thận trọng, thinh lặng.
Đó là những điều nghịch với cá tính của Phêrô, ông không hi vọng đạt được. Nhưng Thầy Giêsu mạnh mẽ hơn chính ông, ông cảm nhận được ở Thầy sự tín nhiệm không đầu hàng trước những kháng cự của ông, tiếp tục lay chuyển, cho tới khi đưa ông tới được mức độ đúng đắn trong việc đánh giá về chính mình và về người khác.
Phêrô nhận ra biến cố này đúng là do Chúa quan phòng. Ông nhận ra mình bị khuất phục hoàn toàn. Một lần quở trách quý giá khiến ông bắt đầu việc cải đổi chính mình. Công việc khó khăn này của Phêrô đạt đến cực điểm trong những ngày sau hết của cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, khi ông chối Thầy, và kết quả cuối cùng là ông nhận được sự ủy nhiệm Chúa Giêsu tín cẩn trao cho, mà ông không bao giờ dám mơ. 

Ba lần chối Thầy

Chúng ta bước sang trình thuật xây dựng thứ hai trong hành trình hoán cải của Phêrô, trong đó vị tông đồ bộc lộ một lần nữa tất cả sự mỏng giòn của mình. Đó là trình thuật về ba lần chối Thầy, được thuật lại trong ba Tin Mừng nhất lãm cũng như trong trình thuật xử án của Tin Mừng thứ tư. Ở đây chúng ta suy niệm tin mừng Gioan 18, 1-8, 25-27.
“Ông Si-môn Phê-rô và một môn đệ khác đi theo Đức Giê-su. Người môn đệ này quen biết vị thượng tế, nên cùng với Đức Giê-su vào sân trong của tư dinh vị thượng tế. Còn ông Phê-rô đứng ở phía ngoài, gần cổng. Người môn đệ kia quen biết vị thượng tế ra nói với chị giữ cổng, rồi dẫn ông Phê-rô vào. Người tớ gái giữ cổng nói với ông Phê-rô: "Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của người ấy sao?" Ông liền đáp: "Đâu phải". Vì trời lạnh, các đầy tớ và thuộc hạ đốt than và đứng sưởi ở đó; ông Phê-rô cũng đứng sưởi với họ”.
“Còn ông Si-môn Phê-rô thì vẫn đứng sưởi ở đó. Người ta nói với ông: "Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của ông ấy sao?" Ông liền chối: "Đâu phải". Một trong các đầy tớ của vị thượng tế, có họ với người bị ông Phê-rô chém đứt tai, lên tiếng hỏi: "Tôi đã chẳng thấy bác ở trong vườn với ông ấy sao?" Một lần nữa ông Phê-rô lại chối, và ngay lúc ấy gà liền gáy”.
            Chúng ta thấy duờng như Phêrô bị thử thách này mà ông không nhận biết. Khi Chúa Giêsu bị bắt, bị trói, bị điệu đi, sau khi Ngài bảo Phêrô hãy xỏ gươm vào vỏ (x. Gioan 18, 1-12), ông bắt đầu càng mù mờ khó hiểu về Thầy mình hơn: tại sao không tự vệ? Tại sao không chấp nhận ít ra là hành vi tự vệ của tôi? tại sao không vũ trang? Nhưng ông cứ đi theo Chúa, không biết rõ tại sao, càng không có quyết định can thiệp để bênh vực ngài trong khi bị xét xử; có lẽ ông hi vọng, nhưng không biết phải làm gì cho Ngài. Nhờ môn đệ thầy yêu can thiệp, ông được vào sân dinh thượng tế. Ngay khi bước vào, ông bị hỏi: “Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của người ấy sao?”
Phêrô thú nhận: tôi đã trả lời: “đâu phải”, mà không biết tại sao tôi làm vậy. Rồi tôi đứng ở đó cu rú như trời trồng, sưởi ấm, và thấy mình như rơi vào một trạng thái siêu thực, không còn ý niệm gì về việc mình đang làm. Và lần thứ hai họ hỏi tôi: “Cả bác nữa, bác không thuộc nhóm môn đệ của ông ấy sao?”, tôi lại chối lần nữa và đáp: “Đâu phải”. Kế đến, tôi lại bị một đầy tớ khác chất vấn, người này có bà con với người bị tôi chém đứt tai trong vườn Cây Dầu, anh hỏi: "Tôi đã chẳng thấy bác ở trong vườn với ông ấy sao? " Và tôi lại chối.
            Tại sao lại chối?
Chắc chắn là vì sợ, nhưng cũng rất có thể là vì tôi quá hoảng loạn. Khi nhận là không biết Ngài, tôi cũng tỏ ra cho thấy một chút về những gì tôi có trong lòng lúc đó. Câu trả lời của tôi cũng chứa đựng một sự thật nào đó, vì tôi không thể là môn đệ của một người bị làm nhục đến thế, người để mình bị đối xử tàn tệ đến vậy. Tôi đã thất vọng, tôi không còn hiểu nữa, một cách nào đó tôi có thể nói là không biết Ngài. Trong thâm tâm tôi đã không chấp nhận việc Thầy Giêsu chịu đau khổ và nhục nhã, nên tôi cũng không thể chấp nhận ý muốn của Thiên Chúa được bày tỏ trong sự nhục nhã như thế, cũng không thể chấp nhận một Thiên Chúa dính dáng đến con người đến độ để mình bị tiêu diệt trong con người thầyGiêsu. Điều này đòi tôi một sự vượt quá những gì mà tôi có thể.
Và chỉ cái nhìn của Chúa Giêsu - Phêrô nói tiếp - đã tác động đến tận đáy tâm hồn tôi, làm cho tôi hiểu ra tôi đang ở đâu, làm gì: “Ông Phê-rô trả lời: "Này anh, tôi không biết anh nói gì!" Ngay lúc ông còn đang nói, thì gà gáy. Chúa quay lại nhìn ông” (Lc 22, 61a) - cũng với động từ «emblébo» trong lần gặp gở đầu tiên[3]- với cái nhìn đầy cảm thương, thông cảm, và tha thứ. Và tôi nhớ lại lời Thầy đã nói truớc: “"Hôm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần" (c.61b).
“Và ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết” (Lc 22, 62). Chúng ta có thể nhận ra chính ở đây lần hoán cải thứ hai của Phêrô, khi ông ta hiểu được rằng phải chấp nhận Chúa Giêsu như chính ngài, cần phải chấp nhận ý muốn của Thiên Chúa được tỏ bày nơi Đấng chịu đóng đinh trên thập giá,  nhục nhã, bị tra tấn, và bị giết. Đây chính là con đường của Chúa.

Con đường tình yêu

Chúng ta tìm thấy con đường được xác định trong phần cuối cùng mà chúng ta gọi là kết luận của ơn gọi hay hoán cải lần thứ hai của Phêrô. Chương 21 của Tin Mừng Gioan thuật lại: “Sau đó, Đức Giê-su lại tỏ mình ra cho các môn đệ ở Biển Hồ Ti-bê-ri-a. Người tỏ mình ra như thế này. Ông Si-môn Phê-rô, ông Tô-ma gọi là Đi-đy-mô, ông Na-tha-na-en người Ca-na miền Ga-li-lê, các người con ông Dê-bê-đê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. Ông Si-môn Phê-rô nói với các ông: "Tôi đi đánh cá đây." Các ông đáp: "Chúng tôi cùng đi với anh." Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả.
Khi trời đã sáng, Đức Giê-su đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận ra đó chính là Đức Giê-su. Người nói với các ông: "Này các chú, không có gì ăn ư?" Các ông trả lời: "Thưa không." Người bảo các ông: "Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá." Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá. Người môn đệ được Đức Giê-su thương mến nói với ông Phê-rô: "Chúa đó! " Vừa nghe nói "Chúa đó! ", ông Si-môn Phê-rô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá, vì các ông không xa bờ lắm, chỉ cách vào khoảng gần một trăm thước.
Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa. Đức Giê-su bảo các ông: "Đem ít cá mới bắt được tới đây! " Ông Si-môn Phê-rô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy mà lưới không bị rách. Đức Giê-su nói: "Anh em đến mà ăn! " Không ai trong các môn đệ dám hỏi "Ông là ai?”, vì các ông biết rằng đó là Chúa. Đức Giê-su đến, cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Người cũng làm như vậy. Đó là lần thứ ba Đức Giê-su tỏ mình ra cho các môn đệ, sau khi trỗi dậy từ cõi chết.
            Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giê-su hỏi ông Si-môn Phê-rô: "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy hơn các anh em này không? " Ông đáp: "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." Đức Giê-su nói với ông: "Hãy chăm sóc chiên con của Thầy." Người lại hỏi: "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy không? " Ông đáp: "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." Người nói: "Hãy chăn dắt chiên của Thầy." Người hỏi lần thứ ba: "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không? " Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần: "Anh có yêu mến Thầy không? " Ông đáp: "Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy." Đức Giê-su bảo: "Hãy chăm sóc chiên của Thầy. Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn." Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông: "Hãy theo Thầy" (cc.1-19).
Chúng ta thấy  Phêrô đã lấy lại vai trò thủ lãnh trước khi Chúa hiện ra trên bờ hồ, ông đã được khôi phục lại từ cái nhìn của Chúa Giêsu và việc ông than khóc, hối cải, ăn năn vì  những điều đáng hổ thẹn của mình, và như thế ông có thể củng cố anh em. Nhưng phần cuối của trình thuật xác định là Phêrô đã hoán cải lần thứ hai, và lần hoán cải này cho phép ông nhắm vào bản chất, về cốt yếu. Thực ra ba câu hỏi về tình yêu Chúa Giêsu hỏi và vị tông đồ đã khiêm tốn trả lời là câu hỏi về chính bản chất, cốt lõi của mọi hoạt động, mọi công trình.
Ông ta được hỏi về tình yêu chứ không về đức tin, có lẽ vì trong giai đoạn cuối này tình yêu là căn nguyên. Dĩ nhiên đức tin là nguyên lý cho ơn cứu rỗi và việc công chính hóa, là chính con mắt của tình yêu. Trước tiên Thiên Chúa tuôn đổ tình yêu trong lòng chúng ta, và chính tình yêu này làm cho chúng ta tin, trao ban và phó thác chính mình.
Vì thế, Phêrô đã hoàn tất hành trình của mình khi ông nhận ra mình mỏng giòn – và ông ta nói rõ điều đó trong câu trả lời: Lạy Chúa, Chúa biết mọi sự, con không muốn xác quyết gì hết về chính mình, con không muốn mạo muội suy đoán gì hết – và khi Phêrô nghe câu hỏi về cốt lõi, về bản chất, tức là về tình yêu, là điều phải trở nên điểm quy chiếu của tất cả mọi hoạt động mục tử của ông, là nền tảng của tất cả những  gì ông sống sau ơn gọi hay lần hoán cải thứ hai.
Sau khi đã lược qua cách ngắn gọn những giai đoạn của cuộc hoán cải của Phêrô, và ghi nhớ những đoạn Tin Mừng nền tảng, giờ đây chúng ta bước qua phần suy niệm (meditatio).

Đâu là kết quả của lần hoán cải thứ hai?

Ơn gọi hay hoán cải lần thứ hai gồm tóm trong điều gì? Bước ngoặc này của cuộc sống bao hàm trong điều gì và đâu là kết quả của nó? Chúng ta sẽ cố gắng đưa ra một vài kết quả. Sau khi nghe những lời của Phêrô, chúng ta cũng tự hỏi mình là có thể xảy đến trong chúng ta một lời mời gọi mới hay một cuộc hoán cải mới, hay có lúc nào đó chúng ta có những cảm nghiệm giống như thế?
-          Kết quả đầu tiên là chúng ta nhận thức được chính sự mỏng giòn của mình, mà chúng ta không bao giờ đào sâu cho đủ. Thông thường từ khi còn trẻ chúng ta thường tự đánh lừa, chúng ta thường hứa hẹn, thai nghén nhiều kế hoạch; nhưng rồi chúng ta  nhận ra mình quá mỏng giòn. Dĩ nhiên là khó chấp nhận điều đó, và khi dự tính làm điều gì chúng ta muốn trở lại sự trong trắng ban đầu, một chút giống như khi còn nhỏ, muốn thoát khỏi mọi sự và trở lại thời mà mọi cái còn như tờ giấy trắng. Chúng ta luôn  ước muốn như thế; nhưng đến một lúc chúng ta phải chấp nhận là mình mềm yếu, mỏng giòn. Điều này tốt cho chúng ta, vì đặt chúng ta với trọn vẹn sự thật về mình trước mặt Chúa.
Điều này xảy ra cho mỗi người mỗi khác. Nó đã xảy ra với Phêrô qua một hình thức đầy thương đau, và có lúc cũng xảy ra tương tự một cách lạ kỳ cho những linh mục hay tu sĩ, với những kinh nghiệm bị dằn vặt hay bị tấn công tơi tả. Nhưng cũng có lúc dưới một hình thức nhẹ nhàng hay mờ nhạt hơn. Nhưng nói chung, đó là một giai đoạn phải xảy ra. Đây là yếu tố đầu tiên của ơn gọi hay sự hoán cải lần thứ hai.
- Một kết quả khác là việc ý thức rằng mình được tha thứ, và vì được tha thứ, chúng ta có thể thứ tha. Điểm lợi thế là trở nên một người chữa lành bị thương – nói theo H. Nowen- một người được tha thứ thứ tha, một người tội lỗi giúp cho những tội nhân khác nhận biết Chúa. Trong cuốn Bàn về việc sám hối ăn năn (Trattato sulla penitenza), thánh Ambrosio viết lời cầu xin: “mỗi lần đối diện với tội lỗi của một người sa ngã, xin cho con  tỏ cho họ lòng thương cảm, đừng cao ngạo quở mắng, nhưng than van khóc lóc, để khi than khóc người khác, con than khóc chính con”.
Có thể chúng ta không có được cảm xúc đó, nhưng phải ý thức rằng trước hết chúng ta đã được tha thứ, và việc chúng ta cần được tha thứ đưa chúng ta đến lòng thương xót, đến một sự thông cảm luôn tăng triển trong chúng ta; và đó là đường lối của Giáo Hội, cả trong tương lai, khi Giáo hội vẫn còn lữ hành.
- Kết quả thứ ba là sự xác tín chúng ta không hiểu biết Chúa, Thiên Chúa luôn nhiệm mầu, vượt quá những gì chúng ta có thể tưởng tượng về Ngài, - nói như K. Rahner - là một chân trời mà hành động, suy nghĩ và quyết định của chúng ta vô phương đạt thấu. Chúng ta luôn hướng về Ngài, xử sự theo Ngài, mà không bao giờ hiểu biết Ngài trực tiếp, chỉ trong khoảnh khắc chúng ta thấy Ngài như chính Ngài, chúng ta sẽ hiểu biết Ngài như chúng ta được cho hiểu: “Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa; nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Ki-tô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1Gioan 3,2); “Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi” (1Cor 13,12).
Bởi vậy, chúng ta chỉ hiểu biết một phần nào đó về Thiên Chúa, trước hết là qua Chúa Giêsu, qua cách Ngài hành động, thực hiện, suy nghĩ hay quyết định.
- Một kết quả nữa do những biến cố đáng tiếc, đau khổ, hay đen tối mà chúng ta có thể đã trải qua, là ý thức về lòng nhân từ và thương xót của Chúa cho chúng ta, vì dù gì đi nữa Ngài cũng không bỏ rơi chúng ta, nhưng luôn ở kề bên và tiếp tục phục vụ cũng như lay động thức tỉnh chúng ta. Chúng ta được mời gọi khám phá những lời dạy Chúa ban cho trong những lúc khó khăn, khi dường như đã mất tất cả hay như đang đi vào tăm tối.
Có lúc quá khô khan trong cầu nguyện, lại làm phục hồi lại trong ta sự thật là cầu nguyện là ân huệ của Thiên Chúa, trong khi chúng ta lại tìm cách tổ chức lại thật chi tiết theo ý muốn của chúng ta, theo sự chế ngự của óc tưởng tượng. Có khi bệnh hoạn thân xác, hay được báo tin bị bệnh nặng, là một dịp để thực hiện một bước ngoặc hay nhận ra mình bất lực và cần một sự chấp nhận mới ý định của Thiên Chúa.
Thánh Phêrô dạy cho chúng ta rằng những khoảnh khắc đã qua, mà chúng ta còn có thể rút ra bài học và sự nâng đỡ cho tương lai, có lẽ là những khoảnh khắc quý giá nhất trong đời. Cũng như đối với Phêrô những thời khắc nản lòng và tăm tối lại là những bước quyết định trong hành trình hoán cải và trưởng thành nội tâm của mình, từ đó cứ tiến mãi, không quay trở lại.
- Cuối cùng, những giai đoạn như thế mang lại hoa trái vì làm cho chúng ta cảm nghiệm được lời mời gọi đến sự mật thiết mới và luôn sâu đậm hơn với Chúa Giêsu, tin tưởng phó thác vào Ngài, để Ngài sống và hành động trong chúng ta.
Chúng ta cám ơn thánh Phêrô vì đã thuật cho chúng ta những cảm nghiệm để nhận ra lời mời gọi của Chúa; đã giúp cho chúng ta nhận ra những cảm nghiệm đó trong đời sống, để trải qua và để vượt qua nó.
Xem ra ý niệm về hoán cải hay ơn gọi lần thứ hai được tìm hiểu quá giới hạn trong những thời điểm cụ thể; nhưng thực ra đây là một cảm nghiệm lan toả trong cuộc sống. Điều quan trọng là biết rằng nó hiện hữu, rằng chúng ta không hiểu biết đủ về đường lối của Thiên Chúa, rằng chúng ta mỏng giòn, yếu đuối và phải tha thứ cho người khác, phải học biết trước tiên tha thứ cho chính mình, để có thể thực thi lòng thương xót như chúng ta đã lãnh nhận. Như thánh Phao lô đã diễn tả cách tuyệt vời: “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an. Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó” (2Cor 1,3-4).
 Tất nhiên đây là con đường của người môn đệ. Con đường của hoán cải tận căn. Chúng ta không trưởng thành, không đạt đến sự khôn ngoan trong tâm hồn, nếu không trải qua những cảm nghiệm như thánh Phêrô đã bày tỏ cho chúng ta. Đó là con đường của người muốn thực sự theo Chúa Giêsu đến tận cùng.


[1] Lần thứ nhất khi ông được Chúa Giêsu gọi theo ngài, và ông bỏ mọi sự mà đi theo.
[2]  Bài suy niệm này phỏng theo bài lectio divina của Đức Hồng Y Carlo Maria Martini, dòng Tên, có tựa đề “La chiama alla nuova intimità con Gesù – Pietro, come sei diventato pastore?” trong cuộc tĩnh tâm cho các linh mục năm 2007. Bài này được thu tập cùng các bài suy niệm khác trong cuộc tĩnh tâm và in thành sách có tựa đề Il coraggio della passione – L’uomo contemporaneo e il dilemma della scelta, Milano: Piemme, 2010, tt. 71-90. Ngài vừa qua đời vào ngày 31/8/2012, từng là Giám Đốc Học Viện Thánh Kinh Roma và Đại Học Grêgôriô trước khi làm Tổng Giám Mục Milan vào năm 1979 và Hồng Y vào năm 1983.
[3] “Đức Giê-su nhìn ông Si-môn và nói: "Anh là Si-môn, con ông Gio-an, anh sẽ được gọi là Kê-pha" (tức là Phê-rô)” (Ga 1, 42b).